Mục lục
- Lời nói đầu
- Dẫn nhập Tập I
- Giới thiệu
- Chương I: Chiến tranh hai mặt trận và tương quan lực lượng
- Chương II: Chiến tranh bùng nổ
- Chương III: Sản xuất chiến tranh và kinh tế
Lời nói đầu
Khi được thành lập vào năm 1919, Reichsarchiv được giao nhiệm vụ thu thập những tài liệu lưu trữ không còn cần thiết trong hoạt động quản lý thường nhật của Đế chế để phục vụ cho nghiên cứu lịch sử Đế chế, và làm cho chúng có thể sử dụng được thông qua các công trình khoa học. Trong khuôn khổ nhiệm vụ đó, việc biên soạn một lịch sử Chiến tranh Thế giới là công việc cấp thiết và quan trọng nhất, nhất là vì các hồ sơ quân sự và chiến tranh khác cấu thành phần cốt lõi của kho lưu trữ Reichsarchiv. Đồng thời, đó cũng là một mong muốn dễ hiểu của dân tộc Đức: sớm được thông tin về những biến cố nặng nề mang tính định mệnh của thời quá khứ gần đây thông qua một bản trình bày khoa học chặt chẽ và không thể bác bỏ.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng đối với nhiệm vụ đã đặt ra, cần phải có những giới hạn. Cuộc Chiến tranh Thế giới đã can thiệp sâu sắc vào mọi lĩnh vực đời sống đến mức một bản trình bày toàn diện sẽ phải đồng thời xử lý các vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa. Thế nhưng Reichsarchiv chỉ có trong tay một khối tài liệu đầy đủ trên lĩnh vực quân sự; hơn nữa, tại đây tồn tại một tập hợp sự kiện khép kín tương đối và chín muồi hơn cho việc xử lý mang tính lịch sử. Vì vậy, việc nghiên cứu và trình bày các diễn biến quân sự của Chiến tranh Thế giới trở thành nhiệm vụ lớn đầu tiên của Reichsarchiv.
Bộ Lịch sử Chiến tranh Thế giới do Reichsarchiv xuất bản về cơ bản dựa trên các hồ sơ chính thức hiện có của Đức. Tuy nhiên, trong thời đại của xe cơ giới, điện thoại và máy bay, nhiều quyết định và thỏa thuận quan trọng thường được hình thành bằng lời nói mà không có ghi chép bằng văn bản về sau; ngoài ra, hồ sơ lưu trữ cũng bộc lộ những khoảng trống đáng kể. Vì thế, cần phải bổ sung nguồn tài liệu chính thức hiện có bằng những nghiên cứu rộng rãi, bằng việc thu thập nhật ký và thư từ cá nhân, cũng như bằng cách lấy lời khai bằng văn bản và bằng miệng của những người từng tham chiến ở mọi cấp bậc.
Đáng tiếc là nhiều nhân chứng quý giá của các sự kiện đã qua đời trước hoặc trong thời gian hợp tác với Reichsarchiv. Những tổn thất đó không phải lúc nào cũng có thể được bù đắp đầy đủ bằng lời cung cấp của những cộng sự của họ.
Bên cạnh những bổ sung xuất phát từ nguồn tư liệu cá nhân, Reichsarchiv còn nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ các cơ quan trong và ngoài nước. Kriegsarchiv Wien đã cộng tác một cách hết sức thiện chí ngay từ đầu. Ngoài ra còn tồn tại một sự trao đổi học thuật rất có giá trị nhằm thúc đẩy công việc của Reichsarchiv với Historical Section, Committee of Imperial Defence tại London, và với Historical Section, The Army War College of U.S.A. Toàn bộ văn liệu chiến tranh trong và ngoài nước đã xuất bản cho đến nay được tham khảo cẩn trọng nhằm hoàn chỉnh các kết quả nghiên cứu. Nhờ việc khai thác càng đầy đủ càng tốt mọi nguồn tư liệu sẵn có, cũng như nhờ duy trì liên hệ thường xuyên với các nhân vật đã tham gia vào các sự kiện,họ đã cố gắng nhằm đạt tới mức độ tin cậy cao nhất trong việc xác lập các sự kiện.
Reichsarchiv cảm thấy có nghĩa vụ bày tỏ lời cảm ơn đặc biệt tới tất cả các cơ quan trong và ngoài nước cũng như tới nhiều cá nhân đã hỗ trợ, và mong muốn tiếp tục nhận được sự cộng tác của họ trong tương lai.
Do tính chất của nguồn tư liệu, nhiều năm chuẩn bị đã là điều cần thiết trước khi có thể bắt đầu xuất bản công trình này. Ưu thế mà sự hợp tác được tổ chức chặt chẽ trong một cơ quan mang lại đã thể hiện rõ ràng ở đây. Chính nhờ đó mới có thể khảo cứu một khối tư liệu vô cùng đồ sộ, phân tán trong hàng nghìn tập hồ sơ, với sự nghiêm cẩn khoa học.
Cụ thể, quy trình làm việc được tổ chức như sau:
Trên cơ sở các kho hồ sơ hiện có, trước hết người ta tiến hành những công trình sàng lọc và nghiên cứu quy mô lớn, nhiều khi phải truy ngược đến cả những ghi chép của các đơn vị nhỏ nhất. Các nghiên cứu này được xem xét, thẩm tra kỹ lưỡng; những mâu thuẫn và khoảng trống được xác định. Dưới sự tham chiếu tới văn liệu chiến tranh, tới lời cung cấp của các cá nhân và của các cơ quan chính thức, người ta sau đó tiến hành làm sáng tỏ và bổ sung. Từ đó dần dần hình thành những công trình nghiên cứu chuyên đề mang tính hoàn chỉnh.
Tất cả những tư liệu hiện có, sau khi loại bỏ những chi tiết phụ, đã được trình bày dưới hình thức cô đọng nhưng rõ ràng và được các biên tập viên liên kết chặt chẽ thành một bản trình bày thống nhất về những giai đoạn tác chiến nhất định, có giới hạn rõ ràng theo thời gian. Toàn bộ công việc này do Hans von Haesten chỉ đạo; dưới quyền ông có một bộ phận đặc biệt phụ trách xử lý hồ sơ chiến tranh thế giới. Các viên chức của Phòng Lục quân dưới quyền Chủ tịch, Đại tá Tiến sĩ Ernst Müsebeck, cũng đã đảm nhận những nhiệm vụ đầy trách nhiệm trong việc thu thập và sàng lọc khối tài liệu nguồn, phần nào bị phân tán rời rạc, mà nếu không có sự đóng góp của họ thì việc trình bày này đã không thể thực hiện được.
Trong việc xác định mục tiêu và phương pháp làm việc, Cục Lưu trữ Đế chế đã nhận được sự ủng hộ quý báu. Đặc biệt, Ủy ban Lịch sử được thành lập để phục vụ các công trình của mình, dưới sự chủ tọa hiện tại là Ủy viên Cơ mật Thực thụ, Quốc vụ khanh Tiến sĩ Theodor Lewald, đã đứng bên cạnh cố vấn. Ủy ban Lịch sử đã chỉ định hai người thẩm định cho mỗi tập được xuất bản; đối với sự tận tâm của họ, Cục Lưu trữ Đế chế đặc biệt biết ơn.
Trong tác phẩm chính thức này, diễn biến của cuộc chiến tranh trên bộ sẽ được trình bày theo những sự kiện có sự tham gia của Lục quân Đức. Chủ ý của Cục Lưu trữ là sẽ đề cập trong các tập bổ sung đến việc vũ trang toàn quốc, các mối liên hệ giữa chiến tranh và kinh tế, những thành tựu của kỹ thuật, sự tham gia và những đau khổ của hậu phương; còn bộ chính của tác phẩm chỉ đề cập đến các vấn đề ấy trong phạm vi cần thiết cho việc hiểu và đánh giá các chiến dịch trong khuôn khổ bức tranh tổng thể của đại chiến.
Việc trình bày các chiến dịch đặt mục tiêu, bằng cách loại bỏ mọi mục đích giảng dạy mang tính chuyên môn và mọi ý kiến học thuyết, làm nổi bật ý chí và thành tựu của bộ chỉ huy tối cao cũng như thành tích chiến đấu của lục quân. Tuy nhiên, khối lượng đồ sộ của tư liệu cần xử lý và yêu cầu giữ vững mối liên hệ giữa hai chiến trường đã nói chung ngăn cản việc theo dõi các diễn biến tác chiến và chiến thuật xuống dưới cấp sư đoàn. Vì vậy, những trình bày bổ sung được dành cho các loạt ấn phẩm riêng biệt (“Các trận đánh của Thế chiến” và “Nghiên cứu và Trình bày từ Cục Lưu trữ Đế chế”).
Trong việc phân nhóm tư liệu, các nghiên cứu viên đã cố gắng hạn chế mọi khuôn mẫu. Cách trình bày này khác với thói quen thường thấy trước đây trong các tác phẩm quân sự ở chỗ việc mô tả các chiến dịch và diễn biến chiến đấu được bắt đầu từ cánh phải. Ngoài ra, họ cũng thường xử lý riêng biệt và tổng hợp các hoạt động của Bộ Chỉ huy Tối cao Lục quân, nhằm làm rõ nguồn gốc và tác động của các quyết định chỉ huy trong yếu tố phức tạp của thực tế chiến tranh. Vì cùng lý do đó, bức màn che phủ các diễn biến phía đối phương không được vén lên quá sớm. Người đọc ban đầu chỉ biết về chúng trong phạm vi những gì mà bộ chỉ huy Đức vào thời điểm tương ứng đã biết. Chỉ sau khi kết thúc toàn bộ một giai đoạn tác chiến, các diễn biến phía đối phương mới được trình bày một cách liên kết.
Tác phẩm này không tự nhận là đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh, đặc biệt xét từ phía phê phán, về các hoạt động chiến tranh và mối liên hệ của chúng; bởi lẽ khoảng cách thời gian vẫn còn quá ngắn. Nhiệm vụ ấy chỉ có thể giải quyết được khi các ghi chép cá nhân của các tướng lĩnh và chiến sĩ, cũng như các nghiên cứu khoa học riêng lẻ, có sẵn với mức độ phong phú hơn nữa, và trên hết là khi các kho lưu trữ của những đồng minh và đối thủ trước đây của chúng ta được mở ra. Vì vậy, trong phê bình cần phải giữ sự dè dặt; tuy nhiên, mọi điểm tựa quan trọng cho việc đánh giá các diễn biến đã được trình bày một cách công khai và không dè dặt.
Không dân tộc nào cần phải e ngại sự cởi mở này ít hơn dân tộc Đức. Cùng với các đồng minh của mình, trong cuộc chiến khốc liệt nhất của mọi thời đại, dân tộc ấy đã hoàn thành những thành tựu thuộc về cả những gì vĩ đại nhất, nhưng cũng nặng nề nhất của toàn bộ đời sống con người. Do đó, tác phẩm hiện tại, bằng việc tự giới hạn vào sự triển khai nghiêm ngặt của các sự kiện, sẽ trở thành một đài tưởng niệm cho đội quân chiến đấu và đổ máu, cho hậu phương lao động và chịu đựng, một đài vinh danh cho những người Đức đã ngã xuống, dù họ yên nghỉ trên quê hương hay nơi đất khách.
Potsdam, ngày 1 tháng 10 năm 1924.
Chủ tịch Reichsarchiv
von Merz
Dẫn nhập Tập I
Tập đầu tiên này trình bày các trận đánh biên giới ở mặt trận phía Tây; xét về phạm vi không gian và số lượng binh lực tham chiến, chúng thuộc vào những trận chiến lớn nhất trong lịch sử thế giới mọi thời đại. Khó khăn của nhiệm vụ nằm ở tính chất phức tạp và khối lượng đồ sộ của tư liệu cần xử lý; vấn đề là phải sàng lọc, sắp xếp chúng một cách rõ ràng, đồng thời làm nổi bật một cách sắc nét các mối liên hệ lớn của các biến cố cũng như sự tương tác giữa nguyên nhân và kết quả, sau khi đã loại bỏ mọi yếu tố không thiết yếu. Mặc dù sự giới hạn vì lý do đó là điều tất yếu, yêu cầu về tính nghiêm cẩn và đầy đủ khoa học vẫn đòi hỏi phải dành sự trình bày kỹ lưỡng hơn cho cả những lĩnh vực tác chiến đặc thù mà, như chẳng hạn “Biên phòng” (Grenzschutz) và “Triển khai” (Aufmarsch), có lẽ không thu hút được sự quan tâm rộng rãi của công chúng. Ngược lại,ta đã chủ ý từ bỏ việc đưa ra một bức tranh về tổ chức Lục quân Đức vào thời điểm bắt đầu chiến tranh. Những gì được nói ở đây về các quân đội nước ngoài cũng chỉ giới hạn trong những dữ kiện cần thiết nhất cho việc hiểu và đánh giá các sự kiện chiến tranh. Một sự xử lý toàn diện hơn về lĩnh vực này được dành cho một tập chuyên khảo đang trong quá trình được chuẩn bị.
Việc trình bày các diễn biến phía đối phương dựa trên các công trình văn học chiến tranh đã xuất bản cho đến nay, phía Anh và Bỉ ngoài ra còn dựa trên bộ công trình chiến tranh của Anh được xuất bản theo ủy nhiệm chính thức và bản báo cáo chính thức của Bỉ.
Việc cung cấp những con số tổn thất và chiến lợi phẩm hoàn toàn không có thể kiểm chứng tuyệt đối vẫn chưa thể thực hiện ở mọi nơi; và ở những chỗ mà khối tài liệu rất đồ sộ còn chưa được sàng lọc đầy đủ thì tạm thời đã phải bỏ qua.
Ủy ban Lịch sử đã giao cho Thiếu tướng đã nghỉ hưu Rudolf von Borries tại Potsdam và cho Ngài Cố vấn Chính phủ Cơ mật Tiến sĩ Alois Schulte, Giáo sư chính thức ngành Lịch sử tại Đại học Bonn, nhiệm vụ thẩm định tập thứ nhất. Cục Lưu trữ Đế chế bày tỏ lời cảm ơn đặc biệt tới cả hai vị báo cáo viên.
Ghi chú
Nhằm tạo thuận lợi cho độc giả, trong các phần mô tả các hoạt động chiến đấu mang tính chiến thuật, khu vực địa hình nơi diễn ra các trận đánh sẽ được chỉ rõ ngắn gọn trong chú thích cuối trang. Do đó, khuyến nghị người đọc trước hết nên cầm bản đồ trong tay và làm quen khái quát với địa phương trước khi bắt đầu đọc phần trình bày, để việc đọc không phải quá thường xuyên bị gián đoạn bởi việc tìm kiếm các địa danh trên bản đồ. Vì mục đích tạo cái nhìn tổng quát tốt hơn, trên các bản đồ chỉ đưa vào những địa danh thực sự xuất hiện trong phần trình bày.
Giới thiệu
Chương I : Chiến tranh hai mặt trận và tương quan lực lượng
Trong tất cả các dân tộc Châu Âu, dân tộc Đức từ xưa đến nay luôn đặc biệt phải đối mặt với những nguy cơ quân sự do vị trí lãnh thổ của mình nằm ở trung tâm lục địa. Hàng thế kỷ lịch sử Châu Âu đã xác nhận điều này. Quá thường xuyên, Đế chế Đức cổ đại đã phải tự vệ trước các cuộc tấn công đồng thời từ phía Đông và phía Tây. Không phải ngẫu nhiên mà cuộc tiến công cuối cùng của người Thổ Nhĩ Kỳ vào Wien lại trùng hợp với việc Louis XIV chiếm được Strasbourg. Quá thường xuyên, những tranh chấp và cuộc đấu tranh quyền lực của các nước láng giềng đã được giải quyết trên đất Đức. Kiệt quệ và bất lực, vùng đất ở trung tâm đã phải để cho Chiến tranh Ba mươi năm diễn ra ngay trên đất của mình.
Ngay cả khi việc thành lập Đế chế dưới thời Bismarck đã chấm dứt tình trạng suy yếu và phân mảnh, thì những điều kiện này – vốn do vị trí địa lý ban đầu – cũng không thể thay đổi một cách căn bản. Kể từ đó, trên lục địa, ba cường quốc và năm quốc gia nhỏ hơn trở thành những láng giềng trực tiếp của Đế chế mới. Những lợi thế mà vị trí Trung Âu mang lại cho giao thương hòa bình đã phải biến thành điều ngược lại hoàn toàn trong các biến chứng chính trị, và đặc biệt trong trường hợp chiến tranh. Việc ban lãnh đạo Đế chế liệu có thể loại trừ được những nguy cơ như vậy về lâu dài hay không vẫn là điều đáng nghi ngờ. Mối lo ngại này đã từng khiến Công tước Bismarck mất ngủ. Nó càng trở nên cấp bách hơn khi Đế chế phát triển thành một nhà nước công nghiệp đông dân, phụ thuộc vào sự trao đổi hàng hóa với nước ngoài.
Bên cạnh khả năng xảy ra chiến tranh với Pháp – điều chưa bao giờ biến mất kể từ khi Đế chế được thành lập – mối nguy hiểm ngày càng hiện ra rõ rệt hơn, dù đôi lúc lại tạm lắng xuống, là việc phải đối mặt với Đế chế Nga khổng lồ ở phía sau. Khi đó, Đức đứng trước nhiệm vụ vô cùng khó khăn là phải tiến hành chiến tranh ở phía Đông và phía Tây, trên hai mặt trận cách nhau khoảng 1.000 km. Trong tình thế đó, đường biên giới phía Đông dài 900 km của Đế chế thiếu hẳn một chướng ngại vật che chở tự nhiên; lãnh thổ nhô xa về phía Đông bên kia sông Weichsel bị đe dọa ở mức độ cao nhất; sông Oder là chướng ngại tự nhiên liên tục đầu tiên chống lại một cuộc xâm lược của Nga. Bản thân Berlin chỉ cách biên giới phía Đông 300 km và thậm chí chưa đầy 100 km tính từ biên giới ở hướng Nam (từ Ba Lan). Nhưng ngay cả ở phía Tây, chỉ có sông Rhine mới cung cấp một tuyến phòng thủ hữu hiệu. Nếu buộc phải rút lui về đó, những vùng rộng lớn của lãnh thổ Đức với dân cư cốt lõi là người Đức sẽ không được bảo vệ. Trước các hoạt động từ biển, điều kiện thủy văn khó khăn trên bờ biển Bắc Hải mang lại một sự bảo vệ tự nhiên nhất định; tuy nhiên, trên bờ biển Baltic dài gấp bốn lần, các cuộc đổ bộ của những đơn vị mạnh có thể diễn ra ở nhiều nơi. Không một cường quốc nào khác, có lẽ ngoại trừ Nga trên những đoạn biên giới rất dài, lại thiếu sự bảo vệ của các dãy núi cao; Đế chế Đức phải đối mặt với các nước láng giềng thù địch trong một vị thế bất lợi tương tự.
Chừng nào chưa thể tìm ra các bảo đảm khác chống lại sự cưỡng bức về chính trị và kinh tế, thì sự bất lợi do vị trí địa lý quy định này về lâu dài chỉ có thể được bù đắp phần nào bằng một nền quốc phòng (Wehrmacht) hùng mạnh. Do đó, Đế chế Đức rơi vào tình thế bắt buộc phải dành sự chú ý đặc biệt và những nguồn lực to lớn cho việc chuẩn bị chiến tranh. Trong những năm cuối trước Chiến tranh Thế giới, sự tất yếu này đã trở nên rõ ràng ngay cả đối với đại đa số nhân dân ta, và thỉnh thoảng ngay cả các đối thủ của chúng ta cũng thừa nhận điều đó. Vì vậy, không ai khác ngoài Thủ tướng Anh tương lai Lloyd George đã nhiều lần phát biểu công khai theo hướng này. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1914, ông đã giải thích với một đại diện của tờ Daily Chronicle:
“Lục quân Đức là một vấn đề sinh tử, không chỉ đối với sự tồn tại của Đế chế Đức, mà đối với chính sự sống trần trụi và nền độc lập của dân tộc, bởi vì Đức bị bao quanh bởi các quốc gia khác, mỗi quốc gia đều sở hữu một đội quâb gần như mạnh ngang với chính Đức. Chúng ta quên rằng chúng ta đòi hỏi phải có ưu thế 60% so với Đức trên biển, trong khi Đức thậm chí còn không có được ưu thế đó trước Pháp, và ngoài ra còn phải tính đến Nga ở biên giới phía Đông của mình.”¹
___
Chú thích:
¹ Tương tự như vậy, Lloyd George đã bày tỏ quan điểm của mình ngay từ ngày 28 tháng 8 năm 1908:
“Ở đây các bạn thấy nước Đức nằm giữa châu Âu, với Pháp và Nga ở hai bên sườn, mỗi nước đều có quân đội đông hơn quân đội của Đức. Tôi muốn bảo vệ những người bạn của chúng ta, những người cho rằng Đức – vì lo sợ chúng ta – nên cũng muốn âm mưu điều xấu chống lại chúng ta, và nhắc họ nhớ rằng quốc gia này có lý do chính đáng để lo ngại, những lý do mà trong cùng hoàn cảnh cũng sẽ buộc chính chúng ta phải lo sợ.”
___
Trách nhiệm đối với việc phòng thủ lãnh thổ của Đế chế, xét đến cùng, nằm trong tay Hoàng đế với tư cách là Tổng tư lệnh Liên bang. Bên cạnh ông, đối với nhiệm vụ to lớn và khó khăn này, không hề tồn tại một cố vấn đặc biệt hay một cơ quan cấp Đế chế nào chịu trách nhiệm chung cho toàn bộ các vấn đề quốc phòng.
Trong mảng quốc phòng của Đế chế, Lục quân chiếm vị trí hàng đầu xét theo sức mạnh và tầm quan trọng. Sự phát triển lịch sử và hiến pháp liên bang của Đế chế đã dẫn đến việc rằng lực lượng này, nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, không phải là một lực lượng thống nhất như ở hầu hết các cường quốc quân sự khác. Bên cạnh Quân đội Hoàng gia Phổ, mà nếu tính cả toàn bộ các đơn vị liên bang trực thuộc, chiếm khoảng ba phần tư tổng quân số, ngoài ra còn tồn tại — trong thời bình với mức độ độc lập nhiều hay ít — Quân đội Hoàng gia Bayern, Quân đội Hoàng gia Sachsen và Quân đội Hoàng gia Württemberg. Những quan hệ chỉ huy có phần phức tạp nảy sinh từ đó có thể làm xáo trộn tính thống nhất trong tổ chức, huấn luyện và về sau là trong việc sử dụng tác chiến. Bên cạnh Lục quân còn có Hải quân Đế chế; với việc giành được các thuộc địa, sau này còn có thêm Lực lượng Bảo hộ Đế chế (Schutztruppen). Trên tất cả các bộ phận ấy là Hoàng đế Đức với tư cách là “Chủ soái chiến tranh” (Oberster Kriegsherr), riêng đối với quân đội Bayern thì chỉ trong trường hợp chiến tranh thì Hoàng đế mới có quyền đứng trên lực lượng này.
Không tồn tại một cơ quan trung ương nào có thể cùng lúc xử lý các vấn đề của Lục quân, Hải quân và Lực lượng Bảo hộ; thay vào đó, trách nhiệm của Lục quân cũng như Hải quân được phân bổ cho nhiều cơ quan và bộ chỉ huy khác nhau, hoạt động độc lập song song với nhau, mà người đứng đầu mỗi cơ quan đều báo cáo trực tiếp lên Hoàng đế. Trong khi đối với việc bảo đảm năng lực tác chiến của lực lượng lục quân là do Bộ trưởng Chiến tranh Phổ làm cố vấn chịu trách nhiệm, thì việc chuẩn bị kế hoạch sử dụng các lực lượng đó và quyền chỉ huy các chiến dịch lại nằm trong tay Tổng tham mưu trưởng Quân đội Phổ. Tuy nhiên, bên cạnh ông, các Thanh tra Lục quân, những người chịu trách nhiệm về việc huấn luyện các tướng chỉ huy và một số vị trí khác, lại báo cáo trực tiếp với Hoàng đế — một phần với tư cách là Quốc vương Phổ, và với các Quốc vương Bayern, Sachsen và Württemberg. Trong Hải quân, tình hình cũng tương tự. Sự phối hợp giữa vô số cơ quan và bộ chỉ huy tồn tại song song này không thể không gây ra ma sát, nhưng nhìn chung và về tổng thể vẫn đạt tới mức mà nền quốc phòng của Đức không thua kém bất kỳ quốc gia nào khác về tính thống nhất và sức mạnh nội tại.
Các nhiệm vụ của Tổng tham mưu trưởng Lục quân Phổ cùng với uy tín mà chức vụ này đã giành được nhờ Thống chế Bá tước v. Moltke đã bảo đảm cho vị trí một ảnh hưởng lâu dài, thậm chí vượt ra ngoài phạm vi hoạt động trực tiếp của mình. Tuy nhiên, ảnh hưởng đó không phải lúc nào cũng đủ để … … ảnh hưởng một cách quyết định đối với phạm vi của các yêu cầu khác của vấn đề quốc phòng. Trách nhiệm đại diện và bảo vệ các vấn đề này nằm trong tay Bộ trưởng Chiến tranh Phổ, người phải tự giải trình trước các Bộ trưởng Chiến tranh của các bang quốc khác, trước Thủ tướng Đế chế, trước Quốc vụ khanh Bộ Ngân khố Đế chế, cũng như trước Thuợng viện (Bundesrat) và Hạ viện (Reichstag). Bên cạnh đó, việc bổ nhiệm các chức vụ cao cấp trong Lục quân vẫn là một mối quan tâm đặc biệt, trong đó Chánh Văn phòng Quân sự Hoàng gia (Chef des Militärkabinetts) là cơ quan duy nhất có quyền đề xuất.
Việc xem xét và xác định cách thức mà sức mạnh chiến đấu của Lục quân có thể được phát huy một cách hiệu quả nhất ngay khi chiến tranh bùng nổ là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Tổng tham mưu trưởng. Kế hoạch chiến tranh được rút ra từ đó phải thay đổi tùy theo tình hình chính trị cụ thể. Cả trường hợp bất lợi, và đặc biệt chính trường hợp này, cũng phải được tính đến.
Ngay sau khi Pháp bị đánh bại trong cuộc chiến tranh 1870-71, trên đỉnh cao của thắng lợi, Thống chế Bá tước v. Moltke đã bày tỏ ý nghĩ sau đây¹:
“Phép thử nguy hiểm nhất mà sự tồn tại của Đế chế Đức mới phải chịu đựng sẽ là một cuộc chiến tranh đồng thời với Nga và Pháp; và vì khả năng hình thành một liên minh như vậy không phải là không có, nên sẽ là điều khôn ngoan nếu kịp thời tính toán đến các biện pháp phòng thủ.”
___
¹ Bản ghi nhớ tháng 4 năm 1871.
___
Trong trường hợp này, Thống chế giả định Áo–Hung là một đồng minh của Đức, tuy nhiên ông không trông đợi vào sự tham gia mang tính quyết định ngay lập tức của nước này trong chiến tranh. Xét đến ưu thế lúc bấy giờ của các đạo quân Đức, ông đi đến quyết định rằng, trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh như vậy, cần phải tiến hành các chiến dịch đồng thời ở phía Đông và phía Tây, và theo chiến lược tấn công. Tuy nhiên, Liên minh Ba Hoàng đế năm 1872 (Đức-Áo-Nga) đã khiến những suy nghĩ về một cuộc xung đột với Nga tạm thời lùi xa trong những năm tiếp theo.
Trong khoảng thời gian đó, tương quan sức mạnh quân sự đã thay đổi. Vào cuối thập niên 1870, Pháp đã giành lại sức mạnh của mình thông qua những nỗ lực to lớn, không những khôi phục hoàn toàn mà thậm chí còn tăng gấp đôi quy mô quân đội so với trước cuộc chiến tranh bất hạnh. Từ đó trở đi, lực lượng của Đức không còn đủ để tiến hành một cuộc chiến tranh đồng thời ở phía Đông và phía Tây bằng chiến lượng tấn công. Nếu xảy ra một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận, thì nhiệm vụ lúc này chỉ còn có thể được giải quyết bằng cách trước hết tìm cách làm tê liệt một trong hai đối thủ bằng cách tấn công, trong khi tạm thời giữ thế phòng ngự trước đối thủ còn lại. Trong bối cảnh đó, đối với vị Thống chế … xét đến tốc độ chậm chạp của quá trình vũ trang của Nga vào thời chiến lúc bấy giờ, thì vào năm 1877, giải pháp trước hết tiến công về phía Tây vẫn còn được coi là thuận lợi. Tuy nhiên, điều này đã thay đổi trong những năm tiếp theo.
Việc Pháp gia cố mạnh mẽ biên giới phía Đông của mình thông qua việc xây dựng các công sự phòng ngự chẳng bao lâu đã loại trừ khả năng giành được một thắng lợi nhanh chóng bằng toàn bộ sức mạnh của Đức. Ngược lại, ở phía Đông, kể từ khi liên minh với Nề quân chủ sông Donau được ký kết vào tháng 10 năm 1879, thì có thể trông đợi vào sự tham gia tích cực của quân đội Áo–Hung. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết là các lực lượng Đức mạnh cũng phải tiến hành tấn công chống lại Nga. Việc tập trung một bộ phận lớn của quân đội thời bình Nga ở hai bên bờ sông Weichsel trong Tổng đốc địa hạt Warszawa, với trọng tâm hướng chống lại Áo–Hung, như người ta dự đoán, đã mang lại cho các đạo quân Đức và Áo–Hung — nay đã được chuẩn bị nhanh hơn — một mục tiêu hấp dẫn cho một đòn tiến công bất ngờ mang tính chiến lược, đồng thời từ Galizien và Đông Phổ, qua đó mở ra triển vọng về một trận chiến quyết định sớm và có hiệu quả. Từ đó hình thành quyết định rằng, nếu xảy ra chiến tranh đồng thời với Nga và Pháp, thì xấp xỉ một nửa Lục quân Đức, cùng với các lực lượng tiến công của đồng minh, sẽ được sử dụng để tấn công chống Nga, trong khi nửa còn lại tạm thời giữ thế phòng ngự ở phía Tây. Với cách phân bố lực lượng như vậy, một thắng lợi nhanh chóng ở phía Đông dường như được bảo đảm cũng như việc phòng ngự tạm thời ở phía Tây. Tại đây, người ta dự kiến rằng quân Pháp trước hết sẽ tiến lên sau các công sự phòng thủ của họ. Việc phòng ngự của Đức có thể giới hạn trên đường biên giới Đức–Pháp dài chỉ 270 km, và qua đó dựa vào các pháo đài Metz và Strasbourg. Xét đến vị thế chính trị của Anh lúc bấy giờ, nước Đức chưa bị đe dọa bởi khả năng quân Pháp tiến công qua lãnh thổ Bỉ. Ngay cả trong trường hợp cực đoan nếu việc phòng ngự phải rút lui sâu đến tận sông Rhine, thì điều đó, đối với ban lãnh đạo chiến tranh, cũng không đồng nghĩa với việc mất đi những lãnh thổ trọng yếu đế chế. Bởi vào thời điểm đó thì Đức chưa phải là một cường quốc công nghiệp mạnh; nhu cầu về vật tư chiến tranh còn nhỏ; các xưởng rèn pháo của Krupp tại Essen vẫn còn nằm xa chiến trường, và việc cắt đứt nguồn tiếp tế qua các quốc gia trung lập, bất chấp ưu thế của hạm đội Nga và Pháp, hoàn toàn chưa cần phải nghĩ tới.
Việc ký kết liên minh với Ý năm 1882 không làm thay đổi kế hoạch mở đầu một cuộc chiến tranh hai mặt trận bằng tấn công ở phía Đông, trong khi tạm thời giữ phòng ngự ở phía Tây. Liên minh này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phòng thủ ở phía Tây, ở chỗ Ý tăng cường các lực lượng tiến công của Đức tại đây, đồng thời ghìm chân lực lượng đối phương tại chính biên giới của mình, cho dù về phía mình, Ý khó có thể tiến hành một cuộc tấn công đầy triển vọng xuyên qua vùng núi Alpes của Pháp, sâu gần 100 km và ngày càng được củng cố mạnh mẽ qua từng năm. Tuy nhiên, có lẽ Áo–Hung, được che chở bởi liên minh với Ý, giờ đây có thể sử dụng toàn bộ sức mạnh của mình để chống lại Nga, và trong việc đó còn có thể trông cậy vào Rumania như một đồng minh từ năm 1883.
Như vậy, kế hoạch chiến tranh cho cuộc chiến trên hai mặt trận, dù trong chi tiết vẫn có nhiều thay đổi, đã tồn tại cho đến khi vị Thống chế này nghỉ hưu. Người kế nhiệm ông, Đại tướng Bá tước v. Waldersee, và sau đó, trong năm đầu tiên tại nhiệm, cả Bá tước v. Schlieffen, đều giữ nguyên chiến lược này.
Tuy nhiên, trong thời gian đó, tình hình đã dần dần thay đổi, đến mức vào mùa hè năm 1892, Bá tước Schlieffen không còn coi kế hoạch chiến tranh trước đây là đầy triển vọng nữa. Quan hệ Đức–Nga đã trở nên lạnh nhạt; sự xích lại gần nhau giữa Pháp và Nga ngày càng thể hiện rõ. Điều đó đã dẫn đến việc ký kết liên minh Pháp–Nga vào khoảng các năm 1893/1894. Nga đã thành công trong việc rút ngắn đáng kể thời gian cần thiết cho quá trình vũ trang và tập kết lực lượng thông qua việc cải tổ tổ chức quân đội và xây dựng mạng lưới đường sắt dày hơn. Ở miền bắc Ba Lan, phòng tuyến Narew đã được củng cố nhằm bảo vệ quá trình tập kết. Phía sau tuyến này, Đại Tham mưu Đức nay cho rằng các lực lượng chủ yếu của quân đội Nga sẽ tập trung để tấn công chống lại Đức, chứ không còn như trước đây là chống lại Áo–Hung. Do đó, một thắng lợi ban đầu nhanh chóng từ Đông Phổ trở nên hết sức đáng nghi ngờ, và nếu đối phương bị đánh bại trong các trận chiến kéo dài, thì đối với họ vẫn luôn tồn tại khả năng gần như vô hạn để rút lui sâu vào nội địa của đế quốc rộng lớn của mình. Trong trường hợp chiến tranh, Nga sẽ **“không còn bị bất ngờ và cũng không còn có thể bị đánh quỵ”**1. Ta không còn có thể hy vọng áp đặt được một quyết định ở phía Đông trong một thời gian có thể dự liệu được, điều vốn sẽ cho phép rút đại bộ phận quân Đức về sông Rhine. Đồng thời, việc Đức phải hỗ trợ quân đội Áo–Hung cũng không còn tỏ ra cấp thiết như trước. Đế quốc sông Donau đã được giải tỏa đến mức, nhờ sự thay đổi trong việc tập kết của Nga, cùng với Rumania, thậm chí có thể tham chiến với ưu thế mạnh ngay khi chiến tranh bắt đầu.
___
1) Bản ghi nhớ của Bá tước Schlieffen, tháng 11 năm 1893.
___
Ở phía Tây, sức mạnh của Pháp cũng tiếp tục gia tăng. Quốc gia này cũng đã cải thiện quá trình vũ trang và tập kết, trước hết là thông qua xây dựng đường sắt, đến mức quân đội của họ nay có thể sẵn sàng tại biên giới còn nhanh hơn Lục quân Đức. Ý thức về sức mạnh và sự tự tin của người Pháp tiếp tục dâng cao. Tuy nhiên một cuộc chiến tranh chống Đức là điều họ chỉ muốn tiến hành nếu các lực lượng Đức mạnh ở phía Đông bị Nga ghìm chân. Tuy nhiên, khi đó, theo giả định của Bá tước Schlieffen, họ sẽ mở màn cuộc chiến bằng một cuộc tấn công trực tiếp của chính mình.
Như vậy, câu hỏi lúc này trở nên mang tính quyết định: trong hai đối thủ trong thế sẵn sàng tấn công, ai là kẻ nguy hiểm hơn. Đó chính là người Pháp. Quân đội của họ có mặt tại biên giới Đức với lực lượng mạnh hơn và sớm hơn rất nhiều so với quân Nga. Tại biên giới phía Tây, một trận chiến quyết định lớn có thể xảy ra trước tiên; và nó phải mang ý nghĩa cực kỳ quyết định. Vì vậy, Bá tước Schlieffen, trong một bản ghi nhớ được soạn vào tháng 8 năm 1892, đã quyết định rằng trong tương lai đại bộ phận quân Đức sẽ được triển khai chống lại Pháp. Còn để chống Nga thì chỉ sử dụng chừng mực các lực lượng không thể kịp thời đưa đến biên giới phía Tây.
Trong các thập niên tiếp theo, cho đến khi Chiến tranh Thế giới bùng nổ, Đức vẫn ở vào vị thế trung gian giữa quân Pháp với khả năng sẵn sàng sớm hơn, ngang bằng, nếu không muốn nói là vượt trội, và quân Nga chậm hơn trong việc sẵn sàng, nhưng lại vượt trội hơn hẳn về quy mô tổng thể; tuy nhiên, các lực lượng này phần nào đã bị ghìm chân bởi quân đội Áo–Hung và Rumania. Trong những hoàn cảnh như vậy, kể từ năm 1892, nguyên tắc phân bố lực lượng của Đức cho cuộc chiến tranh hai mặt trận nhìn chung vẫn được duy trì cho tới chiến tranh: đại bộ phận ở phía Tây, chỉ lực lượng tối thiểu cần thiết đối phó phía Đông.
Kế hoạch tác chiến chống Pháp¹ dần dần đã thay đổi. Xác suất rằng người Pháp sẽ chờ đợi với việc mở đầu cuộc tiến công cho đến khi quân Nga cũng sẵn sàng với ưu thế lớn sớm khiến Bá tước Schlieffen phải xem xét bằng cách nào ông vẫn có thể buộc phải có một quyết định nhanh chóng ở phía Tây. Trước hệ thống công sự biên giới vững chắc của Pháp, việc tiến quân của cánh phải Lục quân qua miền nam Bỉ cuối cùng hiện ra đối với ông như con đường duy nhất và chắc chắn nhất. Kể từ cuối thập niên 1890, Tổng Tham mưu trưởng đã kiên quyết lựa chọn phương án này. Trong hai quốc gia có lãnh thổ sẽ bị động chạm bởi kế hoạch ấy, Luxembourg không có quân đội, còn Bỉ thì có lực lượng quá yếu đến mức không thể cản đường cuộc tiến quân của Đức, và đồng thời cũng không thể mang lại cho đối phương một sự tăng cường sức mạnh đáng kể nào.
___
¹ Một cách chi tiết, kế hoạch tác chiến của Đức ở mặt trận phía Tây đã được trình bày trong chương đầu của Phần I của tập sách này; còn đối với mặt trận phía Đông thì trước hết chỉ mới được đề cập sơ lược trong Tập II, nhằm giải thích vì sao người ta ban đầu tìm kiếm một trận chiến quyết định ở phía Tây, và toàn bộ sự bố trí lực lượng đã được hình thành như thế nào cho đến khi chiến tranh bùng nổ.
___
Những mối quan ngại khác, Bá tước Schlieffen không muốn để chúng chi phối trong một cuộc chiến mà ở đó vấn đề là sự tồn vong của Đế chế. Việc Anh can thiệp ủng hộ tính trung lập của Bỉ vào thời điểm đó không thể mặc nhiên coi là điều hiển nhiên. Thỉnh thoảng, báo chí Anh mang tính bán chính thức đã đề cập đến vấn đề trung lập của Bỉ trong bối cảnh căng thẳng Đức–Pháp vào mùa xuân năm 1887. Báo chí này đi đến kết luận rằng người ta hoàn toàn có thể thừa nhận cho Đức quyền đưa quân qua lãnh thổ, nếu Đức cam kết không xâm phạm đến chủ quyền của Bỉ. Những tiếng nói phản đối cũng xuất hiện tại London, nơi họ mong muốn kìm hãm khát vọng báo thù của Pháp¹. Khi Bá tước Schlieffen soạn thảo kế hoạch mới của mình vào năm 1898, người ta vẫn phải tính đến khả năng quan điểm của Anh sẽ thay đổi. Chính vào thời điểm đó, tranh chấp Fashoda đã làm gia tăng sự đối kháng giữa Anh và Pháp đến mức có nguy cơ chiến tranh.
___
¹) Gooch, The History of Modern Europe, tr. 134 và các trang tiếp theo.¹) Gooch, The History of Modern Europe, tr. 134 và các trang tiếp theo.
___
Với sự khởi đầu của hòa giải Anh–Pháp, tình hình chính trị và quân sự đối với Đức trở nên ngày càng phức tạp. Quả thật, Nga rơi vào tình trạng suy yếu quân sự trong vài năm do cuộc chiến ở Đông Á và những hậu quả của nó, nhưng dần dần lại phục hồi. Sự đối kháng Đức–Anh ngày càng gay gắt. Kể từ khi chính sách Anh thành công vào năm 1907 trong việc đạt được sự hòa giải cả với Nga, thì trong Đại Tham mưu Đức, họ chắc chắn tính đến việc Anh sẽ là đối thủ trong một cuộc chiến chống Nga và Pháp. Khi đó, đế quốc hải đảo không chỉ có thể sử dụng hạm đội vượt trội của mình, mà kể từ cuộc cải cách quân đội Haldane, còn có thể sử dụng một lực lượng lục quân nhỏ nhưng phù hợp cho một cuộc đại chiến. Tuy nhiên, với sự thù địch của Anh đối với Đức, sự trợ giúp của Ý cho phe Trung Tâm lại trở nên không chắc chắn. Quốc gia này khó có thể chịu đựng được sự thù địch của Anh; đồng thời, sự đối lập của Ý với Áo–Hung, vốn đã tạm lắng một thời gian, lại trỗi dậy. Vì thế, Rumania vẫn là đồng minh duy nhất chắc chắn của phe Trung tâm. Đức và Áo–Hung phải tính đến khả năng rằng, trong mối nguy chiến tranh luôn rình rập, họ cuối cùng có thể phải một mình đơn độc chống lại tất cả.
Để dự liệu cho một những diễn biến chính trị như vậy, Bá tước Schlieffen từ những năm cuối nhiệm kỳ của mình coi việc mở rộng nhanh chóng hơn nữa sức mạnh quốc phòng Đức là điều cần thiết. Khi rời khỏi quân ngũ vào cuối năm 1905, vị tướng để lại một bản ghi nhớ, trong đó ông chỉ ra rằng chúng ta đã chùng xuống trong các nỗ lực của mình. Ông viết:
“Chúng ta vẫn tự hào về dân số cao, về những khối quần chúng nhân lực trong tay mình, nhưng các khối quần chúng đó không được huấn luyện và trang bị đầy đủ. Việc Pháp, với 39 triệu dân,có thể triển khai 959 tiểu đoàn vào lực lượng dã chiến, trong khi Đức, với 56 triệu dân, chỉ có 971 tiểu đoàn, đã chỉ rõ điều này.”
Tuy nhiên, vì sức mạnh quân sự của Nga trong những năm sau đó vẫn còn đang bị tê liệt, và đồng thời việc mở rộng hạm đội Đức đòi hỏi những nguồn lực đáng kể, nên yêu cầu của vị tướng ban đầu không được người kế nhiệm ông, Thượng tướng Bộ binh v. Moltke, theo đuổi một cách nghiêm túc. Bộ trưởng Chiến tranh khi đó, từ năm 1903 là tướng v. Einem, cũng không nghĩ tới những yêu sách lớn mới, sau khi ông đã tuyên bố trước Reichstag vào tháng 1 năm 1904 rằng quá trình vũ trang của Lục quân về cơ bản đã hoàn tất.
Chỉ đến Khủng hoảng Maroc năm 1911, ánh sáng chói gắt mới rọi rõ đến mức vị thế bất lợi của Đức, khiến nhu cầu tăng cường nền quốc phòng một cách nhanh chóng và bền vững không thể tiếp tục bị bác bỏ. Cách nhìn nhận của Đại tướng v. Moltke về hoàn cảnh lúc bấy giờ được thể hiện trong một bản ghi nhớ trình lên Thủ tướng Đế chế v. Bethmann Hollweg vào cuối tháng 11 năm 1911. Tổng Tham mưu trưởng coi là “chắc chắn rằng Anh sẽ xuất hiện một cách thiện chí về phía Pháp ngay khi một cuộc xung đột Đức–Pháp đi đến quyết liệt”. Đối với Ý, thì “ngày nay hầu như không thể giả định rằng có một lợi ích nội tại đứng về phía Đức trong một cuộc chiến chống Pháp”; nước này sẽ giữ thái độ chờ đợi. Vị tướng chỉ coi các lực lượng tiến công của Đức và Áo ở một phía, và Pháp, Anh, Nga ở phía bên kia là những nhân tố chắc chắn, và tiếp tục trình bày:
“Nga, kể từ chiến dịch bất hạnh chống Nhật, đã tiến hành một cuộc cải tổ triệt để quân đội. Nước này đã biến các lực lượng dự bị và pháo đài độc lập trước đây thành sáu quân đoàn mới. Họ đã tạo ra một sự thay đổi trong việc bố trí binh lực, điều này tạo thuận lợi cho việc vũ trang và cho việc sử dụng trong trường hợp chiến tranh. Với những hy sinh tài chính to lớn,họ đã mở rộng mạng lưới đường sắt đến mức việc triển khai lực lượng tại biên giới phía Tây và Tây Nam có thể diễn ra chỉ trong một nửa thời gian so với năm năm trước đây. Họ đã chi những khoản tiền khổng lồ để trang bị cho quân đội những vật tư chiến tranh tốt hơn, đặc biệt là pháo hạng nặng và pháo dã chiến hiện đại. Một cách không khoan nhượng, họ đã cho nghỉ hưu một số tướng lĩnh và sĩ quan cao cấp bị coi là bất tài, đồng thời trẻ hóa toàn bộ đội ngũ sĩ quan, và thúc đẩy một cách mạnh mẽ việc ban hành các điều lệ và chỉ thị mới cho quân đội. Họ đang trong quá trình xây dựng một lực lượng pháo binh vây hãm mạnh, mà các pháo đài phía Đông của chúng ta — mà việc tăng cường chúng liên tục phải trì hoãn do thiếu kinh phí — không đủ sức đối phó, trong khi đồng thời mở rộng các công sự của chính mình trên sông Narew và Niemen theo kiểu hiện đại. Phần cốt yếu của những cải cách này đã được thực hiện, và Duma luôn sẵn sàng cấp thêm ngân sách để tăng cường sức mạnh quân sự. Không đúng khi cho rằng Nga sẽ còn lâu mới có thể tham gia vào một cuộc chiến tranh châu Âu. Anh đã làm tất cả những gì có thể trong khuôn khổ các thể chế nhà nước của mình để tăng cường và cải thiện các lực lượng chiến đấu. Với việc điều động quân từ các thuộc địa, nếu những thuộc địa này không bị đe dọa, ngày nay Anh có thể triển khai 150.000 quân trên chiến trường châu Âu. Kể từ khi ký kết Hiệp ước với Pháp, nước này đã gần như hoàn toàn rút các lực lượng xung kích hải quân khỏi Địa Trung Hải, và tập trung chúng tại Eo biển Manche và Biển Bắc. Pháp duy trì, với sự huy động tối đa dân số ở khắt khe nhất, một quân đội mà quân số thời bình gần như ngang bằng với Đế chế Đức, và quân số thời chiến của nó — sau khi trừ đi các đơn vị không thể thiếu ở Châu Phi — chỉ kém không đáng kể. Pháp đã tự rào kín mình một cách chưa từng có trước một cuộc xâm lược của Đức. Bốn pháo đài biên giới lớn của họ là Verdun, Toul, Épinal và Belfort được mở rộng bằng mọi phương tiện của kỹ thuật hiện đại và liên kết với nhau bằng một chuỗi các lô cốt chặn đường. Về mặt này, sức mạnh quốc gia của họ không hề thua kém Đức. Hằng năm ,trong khi Đức huấn luyện 52,7% nam giới đủ điều kiện quân sự để sử dụng vũ khí, thì Pháp huấn luyện 78,1%, tổng cộng dân số là 53,2% so với 82,9%. Ngay cả sau khi thực hiện luật quân số thời bình hiện hành¹, vốn chỉ bắt đầu có hiệu lực vào năm 1915, Đức cũng chỉ huy động 0,865% dân số mỗi năm, trong khi Pháp ngay bây giờ đã đạt tỉ lệ nhập ngũ 1,22%. Không thể phủ nhận rằng tình trạng căng thẳng giữa Đức và Pháp, vốn đã tồn tại nhiều năm và định kỳ trở nên gay gắt, đã kích hoạt một hoạt động quân sự gia tăng ở hầu như tất cả các quốc gia châu Âu. Tất cả đều đang chuẩn bị cho cuộc đại chiến, mà mọi người đã mong đợi từ lâu. Chỉ có Đức và nước Áo liên minh với họ là không tham gia vào những sự chuẩn bị này. Trong khi tại Áo, chính phủ đã nhiều năm đấu tranh vô ích cho một sự gia tăng không đáng kể về quân số thời bình, thì Đức, vì lý do tài chính, đã tự giới hạn mình trong những yêu cầu khiêm tốn của Kế hoạch Ngũ niên mới trong năm nay. Ngay cả một sự tăng cường thực sự, dù là nhỏ, của Wehrmacht cũng chỉ thực hiện được vào năm 1914. Bị bao vây bởi kẻ thù, nước Đức hàng năm để cho hàng nghìn người đàn ông có khả năng mang vũ khí không được huấn luyện, và do đó trở nên vô dụng cho việc phòng vệ quốc gia.''
Bản ghi nhớ kết thúc bằng những lời sau:
“Nghĩa vụ của mỗi quốc gia luôn luôn là không chỉ bình thản nhìn thẳng vào những sự kiện sắp tới, mà còn phải chuẩn bị cho ngày phán quyết, ngày sẽ xét xử xem liệu sức mạnh nội tại của nó có trao cho nó quyền được tiếp tục tồn tại hay không. Nước Đức cũng phải vũ trang cho sự phán quyết này. Tôi coi cả việc tiếp tục mở rộng hạm đội, cũng như việc huy động mạnh mẽ hơn lực lượng nhân lực có khả năng quân sự cho lục quân, tức là việc gia tăng quân số thời bình của lục quân, đều là những mệnh lệnh của sự sinh tồn. Hai điều đó phải song hành cùng nhau.”
Song song với bước đi này của Tổng Tham mưu trưởng, Bộ trưởng Chiến tranh Phổ, từ năm 1909 là Thượng tướng Bộ binh v. Heeringen, cũng đã chủ trương tăng cường đáng kể Lục quân. Ông không thể thực hiện đầy đủ các yêu sách của mình trước những lo ngại tài chính do Quốc vụ khanh Bộ Tài chính Đế chế, Wermuth, nêu ra, nhưng cuối cùng đã tuyên bố trước Reichstag rằng quân số cuối cùng được đề xuất — thấp hơn đáng kể so với kế hoạch mở rộng ban đầu — vẫn đủ để bảo đảm an ninh của Đế chế. Vào mùa xuân năm 1912, Reichstag, sau khi tiếp tục cắt giảm thêm, đã phê chuẩn hai quân đoàn mới, cùng với việc tăng quân số thời bình của Lục quân thêm khoảng 38.000 người (bao gồm 9.000 người đã được thông qua từ năm 1911)1, cũng như tăng cường hạm đội. Tuy nhiên, sức mạnh quốc gia của Đức, ngay cả với sự gia tăng sức mạnh quân sự này, vẫn chưa hề được khai thác đầy đủ, dù chỉ từ xa.
___
1) Luật của Đức ban hành ngày 27 tháng 3 năm 1911 quy định việc tăng cường dần quân số thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ khoảng 9.000 người trong vòng năm năm (một quinquennium), nâng tổng quân số từ 506.000 lên 515.000.
___
Mùa đông 1912/13 đã mang đến Cuộc chiến tranh Balkan lần thứ nhất, và qua đó phơi bày rõ ý đồ của Nga chống lại Áo–Hung. Đế quốc sông Donau giờ đây phải chấp nhận thực tế rằng các quốc gia Balkan, dưới sự lãnh đạo của Nga, đã liên kết với nhau sau lưng mình và đã phát triển thành một lực lượng quân sự hùng mạnh. Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia cho đến khi đó vẫn đóng vai trò như một đối trọng tại phần lãnh thổ châu Âu của Đế quốc sông Donau, đã bị đánh bại. Lập trường của Rumania cũng không còn chắc chắn như trước. Đồng thời, việc mở rộng quân đội Nga tiếp tục được tiến hành với tốc độ chóng mặt.
Ở phía Tây, Bỉ đang trong quá trình tăng gấp đôi quân đội của mình. Trong tương lai, quốc gia này cũng sẽ phải được tính đến. Anh mở rộng sức mạnh quân sự của các thuộc địa và tìm cách bảo đảm sự phối hợp của họ trong trường hợp chiến tranh. Pháp cũng huy động thêm các đơn vị thuộc địa địa phương; đến cuối năm 1912, lực lượng này đã đạt quân số 42 000 người. Cùng lúc đó, Pháp cũng áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự đối với Algérie và Tây Phi. Cuối cùng, vào ngày 17 tháng 2 năm 1913, nước này tung ra “lá bài” cuối cùng bằng việc đề xuất tái áp dụng thời hạn phục vụ tại ngũ ba năm, đồng thời kéo dài nghĩa vụ quân sự tổng thể đến năm thứ 48 của cuộc đời. Pháp gọi nhập ngũ thanh niên từ năm 20 tuổi thay vì 21 tuổi, và nhờ đó chỉ trong một bước đã tăng cường quân số tương đương với bốn khóa tuổi nhập ngũ.
Trước sự phát triển này, Đức và Áo–Hung cũng không thể đứng ngoài một cách thờ ơ. Tuy nhiên, một sự kích thích lẫn nhau dẫn đến gia tăng vũ trang, như đã diễn ra một cách bền vững giữa Pháp và Nga kể từ khi liên minh của họ được thiết lập, cho đến nay vẫn chưa tồn tại giữa các Liên minh Trung tâm và lần này cũng không xuất hiện. Mỗi trong hai quốc gia chỉ tự mình thực hiện chừng mực mà họ cho là cần thiết và có thể thực hiện được.
Tại Áo–Hung, quốc gia bị đe dọa trước hết bởi sự thay đổi tương quan lực lượng, các mâu thuẫn chính trị nội bộ ngay cả lúc này cũng ngăn cản việc phát huy sức mạnh quân sự đến mức độ mà tình hình đòi hỏi. Tại đây, quân số thời bình của lục quân chỉ mới được tăng lên vào năm 1912 thông qua việc áp dụng thời hạn phục vụ hai năm; tuy nhiên, mặc dù Đế quốc sông Donau có tới 51 triệu dân, thì lực lượng chiến đấu vẫn chưa đạt được nhiều hơn một nửa quân số của quân đội Pháp, vốn được duy trì chỉ với dân số 40 triệu người. Đối với quân số thời chiến của quân đội Áo–Hung, việc tăng cường tuyển mộ cũng chỉ có thể phát huy tác dụng sau nhiều năm. Ngoài ra, mặc cho tình hình ngày càng trở nên đe dọa, hầu như không có biện pháp thiết yếu nào được thực hiện nhằm tiếp tục củng cố lực lượng vũ trang và đẩy nhanh quá trình xây dựng của họ.
Những nỗ lực của Ý còn ít hơn nữa, mặc dù kể từ khi Hiệp ước Liên minh Ba bên được gia hạn vào năm 1912, và trước căng thẳng đối kháng Ý–Serbia, người ta chỉ bắt đầu đặt một số kỳ vọng nhất định vào sự ủng hộ của nước này.
Xét về tổng thể, chỉ có Đức là quốc gia đã tính đến sự thay đổi của tình hình. Tướng von Moltke coi mối nguy nghiêm trọng đến mức ông cho rằng cần phải, gạt sang một bên mọi lập luận phản đối, tại Đức cũng phải gọi nhập ngũ vào lục quân một tỷ lệ dân số thuộc diện nghĩa vụ quân sự xấp xỉ như Pháp đã thực hiện từ lâu. Điều đó có thể đã dẫn đến việc tăng quân số thời bình của lục quân lên khoảng 300.000 người. Ít nhất ba quân đoàn mới sẽ phải được thành lập. Trong nỗ lực mở rộng lực lượng vũ trang này, Tổng tham mưu trưởng đặc biệt nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ người đứng đầu Cục Chiến dịch khi đó là Đại tá Ludendorff. Tuy nhiên, Bộ trưởng Chiến tranh lại lo ngại rằng một sự gia tăng quá mạnh và đột ngột như vậy, theo yêu cầu của Bộ Tổng tham mưu, sẽ gây bất lợi cho cơ cấu nội bộ của quân đội. Hoàng đế cũng tán thành quan điểm này.
Vì vậy, dự luật quân đội cuối cùng, được Reichstag thông qua vào ngày 29 tháng 3 năm 1913 — sáu tuần sau khi Pháp trình dự luật tái áp dụng thời hạn phục vụ tại ngũ ba năm — chỉ quy định việc tăng quân số thời bình thêm 117.000 người, trong đó một nửa được gọi nhập ngũ vào ngày 1 tháng 10 năm 1913, nửa còn lại chỉ từ mùa thu năm 1914 trở đi, kèm theo các khoản chi tiêu vật chất tương ứng.
Nhận thức được tính cấp bách của thời cuộc, các đại diện của nhân dân đã phê chuẩn các yêu cầu này mà không cắt giảm đáng kể phần nào. Nhờ đó, về lâu dài, việc tăng cường đáng kể khả năng phòng thủ quốc gia đã được bảo đảm; tuy nhiên, đối với một cuộc chiến tranh sắp xảy ra, vẫn chưa đạt được nhiều kết quả, bởi sự tăng cường này chỉ có thể phát huy hiệu quả một cách dần dần, và trên quy mô đầy đủ thì thậm chí chỉ sau 20 đến 25 năm, thông qua sự gia tăng ngày càng lớn của lực lượng nhân lực đã được huấn luyện. Những gì đã bị bỏ bê trong nửa thập kỷ không thể bù đắp chỉ trong một sớm một chiều.
Do đó, vào mùa hè năm 1914, việc tăng cường vũ trang của Đức, cũng như của Áo–Hung, vẫn chưa hề hoàn tất. Tuy nhiên, Nga cũng chưa hoàn thành kế hoạch mở rộng quân đội của mình. Chỉ riêng Pháp — ngoài khả năng huy động thêm quân lính thuộc địa — đã đạt tới giới hạn năng lực của mình, và với 40 triệu dân, nước này có số quân nhân được huấn luyện về mặt quân sự ngang bằng với Đức, quốc gia có tới 67 triệu dân. — Và rồi chiến tranh bùng nổ.
Trong khi đó, những lý do để tìm kiếm một quyết định nhanh chóng trong một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận, và vì mục đích đó trước hết phải tấn công về phía Tây, đã trở nên ngày càng mang tính cưỡng bức.
Nước Đức ngày càng phát triển, và kể từ bước ngoặt thế kỷ với tốc độ ngày càng nhanh, từ một quốc gia chủ yếu dựa vào nông nghiệp trở thành một nhà nước công nghiệp với mật độ dân cư cực kỳ cao. Điều đó khiến nước này ngày càng phụ thuộc không chỉ vào nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, mà còn — mặc dù nền nông nghiệp trong nước đã đạt được những tiến bộ phi thường — vào việc nhập khẩu lương thực để nuôi sống dân cư của mình, ở mức độ ngày càng lớn, từ …phụ thuộc vào nguồn tiếp tế từ hải ngoại¹). Tuy nhiên, các nguồn này lại trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết, đặc biệt trong trường hợp Anh gia nhập hàng ngũ kẻ thù. Tuyến đường qua Biển Baltic cũng như qua các quốc gia trung lập nhỏ hơn — nơi người ta hy vọng vào sự cởi mở để tiếp tế cho quân đội và hậu phương — thực chất chỉ có thể đóng vai trò như một biện pháp ứng cứu tạm thời. Về lâu dài, con đường đó là không đủ. Vì vậy, trong trường hợp chiến tranh kéo dài, người ta phải lo sợ những khó khăn kinh tế và lương thực ở mức độ nghiêm trọng nhất.
___
1) Chi tiết ở chương III
___
Nhưng về mặt quân sự, những khó khăn trong việc tiến hành một cuộc chiến như vậy cũng gia tăng; bởi lẽ, cùng với thời gian chiến tranh kéo dài, ưu thế của kẻ thù về nhân lực và các phương tiện chiến tranh đủ mọi loại sẽ ngày càng bộc lộ rõ rệt. Không thể hy vọng rằng thời gian sẽ đứng về phía chúng ta. Theo sự suy xét của người thường, một cuộc chiến tranh lâu dài tự thân đã có thể đồng nghĩa với thất bại, và qua đó rất có khả năng đẩy quốc gia rơi vào một tai họa mang tính đe dọa.
Do đó, một khi chiến tranh đã bùng nổ, theo quan niệm của Đại Tham mưu Đức, chỉ còn một con đường dẫn tới chiến thắng: phải đánh bại đối phương bằng các đòn tấn công ngắn và nhanh. Mọi kế hoạch của Đại Tham mưu Đức đều được xây dựng xoay quanh mục tiêu này, một khi nó đã được nhận thức là đúng đắn; và việc huấn luyện quân đội cũng được định hướng theo mục tiêu ấy. Tinh thần tấn công vốn ăn sâu trong người lính Đức — ngay cả khi phải chấp nhận bị áp đảo quân số ở mức nhất định — đã được nuôi dưỡng một cách có ý thức và phát triển tới mức cao nhất.
Tính đúng đắn của quan điểm cho rằng chiến tranh chỉ có thể kết thúc một cách thuận lợi nếu trước hết giành được không gian cơ động ở phía Tây ngày càng được khẳng định qua sự phát triển của tình hình. Tầm quan trọng ngày càng tăng của công nghiệp đối với việc tiến hành chiến tranh cuối cùng đã khiến cho việc tiến hành chiến tranh phòng ngự ở phía Tây, tức là trên chính lãnh thổ của mình, trở nên hoàn toàn không thể. Ngoài những bất lợi kinh tế nghiêm trọng, việc tiếp tế cho quân đội về trang bị và đạn dược chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nếu vùng Rheinland, hoặc thậm chí chỉ miền bắc Lorraine và vùng Saar, trở thành chiến trường. Vào thời điểm đó, người ta không hề nghĩ đến — và thực tế cũng khó có thể nghĩ tới — việc kháng cự trong nhiều tháng bằng các tuyến phòng ngự kéo dài hàng trăm kilô-mét dọc biên giới. Kiểu kháng cự như vậy chỉ trở nên khả thi trong chính cuộc Thế chiến sau đó, như là hệ quả của sự kiệt quệ từ cả hai phía và tình trạng thiếu hụt đạn dược.
Ở phía Đông, trái lại, triển vọng giáng cho Nga một đòn quyết định sớm đã suy giảm hơn nữa, kể từ khi vào năm 1910, nhờ việc điều động nhanh hơn, Nga đã quyết định điều chuyển một phần quân đội của mình từ Tổng đốc khu Warszawa vào sâu trong lãnh thổ của Đế quốc và, trong trường hợp chiến tranh, trước hết từ bỏ các vùng đất nằm phía tây sông Weichsel.
Tình hình đường sắt cũng chỉ ra rằng cần phải quay sang đối phó với Pháp trước tiên. Hướng về phía Tây, khối chủ lực của quân đội có thể nhanh chóng được đưa ra biên giới bằng nhiều tuyến đường sắt khác nhau. Một cuộc hành quân triển khai ở phía Đông, đặc biệt là vào Đông Phổ — nơi chỉ có hai tuyến đường vận tải liên tục dẫn tới — sẽ đòi hỏi một khoảng thời gian dài hơn đáng kể. Hơn nữa, về sau điều đó còn gây ra những khó khăn lớn nhất trong việc đưa các đạo quân quay trở lại kịp thời để tung đòn quyết định ở Mặt trận phía Tây, một khi họ đã tiến sâu vào lãnh thổ Nga.
Thông qua các chuyến thị sát của Đại Tham mưu, các cuộc tập trận và những ván cờ đánh trận, Tướng von Moltke đã kiểm tra hằng năm xem một cuộc đại chiến có thể được tiến hành như thế nào ở cả phía Đông lẫn phía Tây. Trong sự đồng thuận với toàn bộ các cộng sự của mình, ông luôn đi đến kết luận rằng không còn khả năng nào khác ngoài việc trước hết phải dồn khối chủ lực quay sang đánh Pháp. Ngày nay, từ các thỏa thuận giữa các Tổng tham mưu trưởng Nga và Pháp trước chiến tranh, cũng như từ các kế hoạch triển khai của Nga, chúng ta biết rằng chính các đối thủ của Đức cũng xem giải pháp này là đúng đắn nhất xét theo hoàn cảnh của Đức. Nếu quân đội Pháp bị đánh tan, quốc gia này sẽ không thể tổ chức một đạo quân mới, bởi họ thiếu nhân lực. Trên chiến trường phía Tây, với sự chỉ huy có mục đích rõ ràng, một quyết định nhanh chóng thông qua một chiến dịch dã chiến là hoàn toàn khả thi.
Ngược lại, một cuộc chiến tranh chống Nga trong khi phía sau vẫn còn một nước Pháp chưa bị đánh bại là điều không thể; người Nga sẽ né tránh đòn tấn công của Đức, như họ đã nhận định một cách chính xác¹). Từ đó, Tổng tham mưu trưởng Đức cuối cùng đã đạt tới một nhận thức rõ ràng đến mức ông loại trừ hoàn toàn khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh chỉ riêng với Nga. Với sự phát triển của tình hình chính trị và dựa trên những gì người ta biết về các thỏa thuận Pháp–Nga, đối với ông, việc Pháp đứng yên chờ cho đến khi Nga bị đánh bại là điều không thể tưởng tượng được.
___
1) Đã xác nhận bởi tướng Danilov, Quân Nhu Trưởng quân đội Nga vào năm 1914-1915 trong tập: ''Les premières opérations de l'armée russe en 1914'', đăng bởi Revue Militaire Française, tháng 5/6 năm 1923, trang 147-161.
___
Tuy nhiên, để phòng mọi trường hợp, trong nhiều năm liền Đại Tham mưu vẫn duy trì kế hoạch để chuẩn bị cho một cuộc triển khai lớn ở phía Đông. Nhưng trong bối cảnh các điều kiện huy động và triển khai ngày càng trở nên phức tạp, những sự chuẩn bị song song này rất dễ trở thành nguồn gốc của sai lầm và rối loạn đủ mọi loại. Vì vậy, Tướng von Moltke cuối cùng đã từ bỏ chúng vào năm 1913. Kể từ đó, trên thực tế, Đại Tham mưu chỉ còn chuẩn bị việc triển khai quân đội cho một cuộc tấn công chống Pháp, trong khi chỉ để lại những lực lượng rất nhỏ ở biên giới phía Đông; còn nếu triển khai phần lớn lực lượng chỉ để chống mình Nga là không khả thi. Tính hợp lý của giả định này đã được chứng minh qua việc công bố Công ước quân sự Pháp–Nga năm 1892 và các thỏa thuận tiếp theo giữa các Tổng tham mưu trưởng, được cả hai chính phủ xác nhận kể từ năm 1910¹). Theo những thỏa thuận này, trong trường hợp Đức tiến hành vũ trang, Pháp và Nga có nghĩa vụ — “ngay khi nhận được tin đầu tiên về tiến trình đó và không cần bất kỳ sự tham vấn trước nào — phải lập tức và đồng thời huy động toàn bộ lực lượng vũ trang của mình” và tập kết họ càng gần biên giới càng tốt. Những lực lượng này phải được sử dụng ngay cho đòn tấn công quyết định, khiến Đức buộc phải bước vào cuộc chiến đồng thời ở cả phía Đông lẫn phía Tây.
Đối với việc mở đầu chiến dịch ở phía Tây, Tướng von Moltke trên hết đã nhiều lần tự đặt ra câu hỏi liệu có thể tránh được việc mở màn chiến tranh bằng cách vi phạm nền trung lập của Bỉ hay không. Trong một bản ghi nhớ năm 1913, ông viết: “Những khó khăn lớn gắn liền với một cuộc hành quân qua Bỉ không được phép bị xem nhẹ.” Đã tồn tại những mối lo ngại nghiêm trọng về việc bắt đầu chiến dịch bằng sự vi phạm lãnh thổ của một quốc gia láng giềng trung lập. Rằng cuộc hành quân qua Bỉ có thể vấp phải sự kháng cự của nước này và, trong bối cảnh tình hình chính trị đã thay đổi kể từ khi kế hoạch được xây dựng, cũng có thể cung cấp cho Anh một cái cớ thuận lợi để tham chiến, Tướng von Moltke đã lường trước điều này. Tuy nhiên, ông tin chắc rằng ngay cả việc từ bỏ hành quân qua Bỉ cũng sẽ không ngăn cản được Anh đứng về phía các đối thủ của chúng ta. Nước Anh không để lại bất kỳ nghi ngờ nào rằng họ “sẽ tích cực tham gia chiến tranh về phía kẻ thù của chúng ta, dù chúng ta có hành quân qua Bỉ hay không … Theo những tin tức hiện có tại đây, không thể nghi ngờ rằng giữa Pháp và Anh đã đạt được những thỏa thuận ràng buộc về các chiến dịch chung trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh châu Âu.” Tính đúng đắn của quan điểm này còn được xác nhận bởi các thỏa thuận giữa Bộ Tổng tham mưu Pháp–Nga được công bố sau đó. Ngay từ năm 1911, Pháp đã tính đến khả năng rằng họ sẽ “từ ngày thứ mười hai trở đi — với sự trợ giúp của quân đội Anh ở cánh trái — có thể tiến hành cuộc tấn công”²).
___
¹) Tư liệu về lịch sử quan hệ Pháp–Nga giai đoạn 1910–1914, do Dân ủy Nhân dân phụ trách Ngoại giao xuất bản, Moskva, 1922, tập I, tr. 697 trở đi.
²) Tư liệu, sđd., tập I, tr. 698.
___
Cuối cùng, trong những năm cuối trước chiến tranh, từ rất nhiều tin tức riêng lẻ, Đại Tham mưu Đức đã hình thành nên ấn tượng tổng quát rằng cũng phải tính đến khả năng Pháp và Anh sẽ vi phạm nền trung lập của Bỉ. Tuy nhiên, trong trường hợp đó, một cuộc tấn công của Đức — được tiến hành có tôn trọng nền trung lập của Bỉ, với cánh phải vượt qua Diedenhofen — sẽ bị đe dọa nghiêm trọng ở bên sườn. Con đường dẫn vào trái tim của khu công nghiệp Đức khi ấy sẽ mở rộng cho đối phương, trong khi Lục quân Đức lại bị ghìm chặt trước mặt trận phía Đông của Pháp, vốn được gia cố dày đặc bằng các pháo đài. Khi đó, triển vọng giành được một thắng lợi quyết định ở phía Tây, trước khi bị việc quân Nga từ phía Đông tiến công không còn khả thi nữa. Vì vậy, Tướng v. Moltke cũng tự thấy mình rơi vào một tình thế khó khăn.
Trong nội bộ Đại Tham mưu không hề tồn tại bất kỳ bất đồng quan điểm nào về việc con đường duy nhất đối với Đức là hành quân xuyên qua Bỉ. Ngay tại Paris, người ta cũng nhận thức rất rõ về hoàn cảnh của Đức, đến mức họ đã “từ lâu đi đến kết luận rằng, trong một cuộc chiến tranh Đức–Pháp mới, nước Đức trong mọi trường hợp và bằng mọi giá sẽ vi phạm nền trung lập của Bỉ”¹).
Ở phía Đông, trận chiến quyết định buộc phải trì hoãn, cho đến khi nhờ chiến thắng dự kiến đạt được trước Pháp, thì mới có đủ lực lượng Đức được rảnh tay để có thể chuyển sang tổng công kích chống lại Nga. Cả Tổng tham mưu trưởng Áo–Hung, Thượng tướng Bộ binh Freiherr Conrad v. Hötzendorf, người từ năm 1909 đã thường xuyên trao đổi quan điểm với Tướng v. Moltke về việc chỉ đạo các chiến dịch, cũng thừa nhận rằng trong một cuộc chiến hai mặt trận, Đức buộc phải tìm kiếm một chiến thắng quyết định trước hết ở phía Tây, và do đó nhiệm vụ trước mắt ở phía Đông trước hết là che chắn hậu phương cho cuộc tấn công của Đức chống lại Pháp. Điều này phù hợp với quan niệm mà Bá tước Schlieffen, không lâu trước khi qua đời, đã nói rằng: ''ngay cả số phận của Áo–Hung cuối cùng cũng sẽ không được quyết định tại sông Bug, mà tại sông Seine''²).
___
¹) Materialien a. a. O., I, tr. 26: Báo cáo của Đại sứ Nga Iswolski từ Paris ngày 2 tháng 2 năm 1911.
²) Bản ghi nhớ tháng 12 năm 1912.
___
Các tướng v. Moltke và v. Conrad đều thống nhất rằng ngay cả cuộc chiến chống Nga mang tính kiềm chế ban đầu, nhằm câu thời gian, cũng không thể chỉ tiến hành bằng cách thuần túy phòng ngự, mà phải được tiến hành theo phương thức tấn công. Chỉ khi bằng cách đó làm suy yếu được lực lượng Nga, trước khi họ tập trung hoàn toàn, thì mới có triển vọng chống đỡ họ trong một thời gian dài và ngăn chặn việc họ, bằng một cuộc xâm lược sâu vào lãnh thổ Đức, có thể làm phương hại đến kết cục của cuộc chiến chống Pháp.Vì vậy, Áo–Hung dự định, dù đồng thời phải tiến hành chiến tranh ở Balkan, vẫn sẽ dồn khối chủ lực của mình chống lại Nga và phát động cuộc tấn công từ Galizien tiến vào Ba Lan. Để hỗ trợ cho chiến dịch này, các lực lượng Đức tại Đông Phổ sẽ tiến quân và cầm chân càng nhiều lực lượng Nga càng tốt.
Đối với trường hợp về bản chất là ít có khả năng xảy ra, rằng Ý tham gia chiến tranh đứng về phía các Liên minh Trung tâm, người ta đã dự liệu việc tăng cường cho quân Đức ở phía Tây bằng cách điều động một đạo quân Ý, đồng thời ghìm giữ — dù chỉ là một bộ phận nhỏ — các lực lượng Pháp tại biên giới Alpen. Hải quân Ý, cùng với Hải quân Áo–Hung, được kỳ vọng sẽ tạo thành một đối trọng đối với Hạm đội Pháp tại Địa Trung Hải.
Nếu ngoài Pháp và Nga, Anh cũng xuất hiện như một kẻ thù — điều mà Tướng v. Moltke hoàn toàn chắc chắn — thì hạm đội vượt trội của Anh sẽ làm chủ mặt biển. Trên lục địa, thì Anh trong một thời gian đáng kể chỉ có thể triển khai một lực lượng lục quân nhỏ. Người ta cho rằng việc đổ bộ lực lượng của họ sang Bỉ hoặc Pháp rất có khả năng xảy ra, nhưng đồng thời cũng phải tính đến khả năng một cuộc đổ bộ lên bờ biển Schleswig, hoặc — trên lãnh thổ Đan Mạch — tại bờ biển Jütland. Những điều kiện này khiến việc giữ lại trước hết những bộ phận của lục quân Đức, vốn trong trường hợp chiến tranh chỉ sẵn sàng muộn hơn hoặc không thể ngay lập tức vận chuyển ra biên giới phía Tây hay phía Đông, trở nên cần thiết, nhằm bảo vệ các bờ biển của chính mình và biên giới phía Bắc.
Không thể trông đợi vào sự hỗ trợ trực tiếp của hạm đội Đức đối với chiến tranh trên bộ. Trên biển, ta dự đoán sẽ phải đối mặt với một cuộc phong tỏa của Anh, hoặc là phong tỏa rộng trên Biển Bắc giữa Na Uy và Scotland cũng như eo biển Đan Mạch, hoặc là phong tỏa chặt, đặt ngay trước Vịnh Đức. Bộ Tổng tham mưu Hải quân nghiêng về quan điểm cho rằng đối phương sẽ lựa chọn phương án thứ hai. Vào năm 1909, trong trường hợp đó, bất chấp sự vượt trội rất lớn về quân số của hạm đội Anh, họ đã quyết định ngay lập tức sẽ tìm kiếm một trận đánh quyết định với đối phương.
Tuy nhiên, ý định này dần dần bị suy yếu, và cuối cùng đến năm 1913 thì hoàn toàn bị từ bỏ, mà Đại Tham mưu của Lục quân không hề hay biết. Từ đó trở đi, họ chỉ muốn làm suy yếu đối phương trước hết bằng những trận đánh nhỏ, và chỉ khi có được sự cân bằng lực lượng, thì mới liều lĩnh tìm một trận đánh quyết định, nhưng chỉ trong những hoàn cảnh thuận lợi. Trên Biển Đông, họ hy vọng có thể giữ được quyền làm chủ mặt biển; nhưng các đại dương lớn đối với Đức nhiều khả năng sẽ bị phong tỏa. Các thuộc địa buộc phải phó mặc cho số phận, cùng với các đơn vị đồn trú vốn dĩ cũng chỉ rất yếu ớt của họ.
Trước tương quan lực lượng ở cả hai phía, Tổng tham mưu trưởng Đức chỉ có thể nhìn cuộc vật lộn sắp tới với mối lo ngại nghiêm trọng. Điều đó được thể hiện qua việc Tướng v. Moltke, cho đến ngay trước khi chiến tranh bùng nổ, liên tục thúc ép phải nhanh chóng thành lập các quân đoàn mới do ông đề nghị, cũng như triệt để thực thi chế độ nghĩa vụ quân sự toàn dân.
Vì vậy, Tổng tham mưu trưởng đã trình lên Thủ tướng Đế chế và Bộ trưởng Chiến tranh, là Thượng tướng v. Falkenhayn từ tháng 7 năm 1913, trong một bản ghi nhớ ngày 18 tháng 7 năm 1914, một lần nữa làm rõ các điều kiện đã tiếp tục dịch chuyển bất lợi cho nước Đức đến mức nào. Ông viết:
“Chúng ta không được nhắm mắt làm ngơ trước những thực tế hết sức bất lợi này. Theo sự cân nhắc trách nhiệm của tôi, đã đến giờ phút tối hậu để chúng ta huấn luyện toàn bộ đàn ông Đức đủ điều kiện quân sự cho việc phục vụ vũ trang, nếu không, một ngày nào đó chúng ta sẽ phải hứng chịu lời buộc tội mang tính hủy diệt, rằng chúng ta đã không làm tất cả những gì có thể cho sự tồn vong của Đế chế Đức và của dân tộc Đức. Bởi rằng trong một cuộc chiến tranh tương lai, vấn đề sẽ là sự tồn tại hay không tồn tại của dân tộc Đức, về điều đó, e rằng không thể còn nghi ngờ nghiêm túc nào nữa.”
Nhưng đã quá muộn. Khi chiến tranh nổ ra, việc tăng cường lục quân được phê chuẩn năm 1913 mới chỉ bắt đầu phát huy tác dụng, và cho đến thời điểm đó, tổng số quân nhân đã được huấn luyện tăng thêm chỉ vỏn vẹn 60.000 người!
Trước một liên minh kẻ thù vượt trội áp đảo, trong năm 1914, Đức và Áo-Hung chỉ có thể dựa vào chính lực lượng của mình. Đúng là có những bảo đảm rất rõ ràng của Tổng tham mưu trưởng Ý, Tướng Pollio, từ mùa đông 1913/14 đã làm khơi lại hy vọng về sự trợ giúp của Ý; tuy nhiên, triển vọng này vẫn hết sức bất định, nhất là khi vị tướng này qua đời vào cuối tháng 7 năm 1914.
Về liên minh với Rumania, Tướng v. Moltke hoàn toàn không còn tin là có thể trông cậy được; trái lại, ông thậm chí còn dự liệu rằng quốc gia này sẽ đứng về phía hàng ngũ kẻ thù. Thổ Nhĩ Kỳ, theo những báo cáo gần nhất từ đó gửi về, đã suy yếu một cách tuyệt vọng, còn Bulgaria, vốn được xem như đối trọng với Serbia, thì đã bị bào mòn đáng kể do kết cục của Chiến tranh Balkan lần thứ hai. Do những điều kiện này, khả năng tiến công của Áo-Hung chống lại Nga tiếp tục bị suy yếu đáng kể.
Trong trường hợp chiến tranh, các lực lượng dã chiến của các bên đối địch trước hết sẽ phải đối mặt nhau với lực lượng như sau²):
___
¹) Trong thời gian đó được thăng chức lên Đại tướng.
²) Quy mô lực lượng của các quân đội nước ngoài được tổng hợp theo những tính toán mới nhất do Tổng tham mưu Đức lập ra trước chiến tranh.
___
Đối thủ phía Tây:
-Pháp: 2.150.000¹
-Anh: 132.000¹
-Bỉ: 100.000
→ Tổng đối thủ phía Tây: 2.382.000
Khối Trung tâm:
-Đức: 2.147.000
-Áo–Hung: 1.400.000
→ Tổng Khối Trung tâm: 3.547.000
Đối thủ phía Đông:
-Nga: 2.712.000¹
-Serbia: 285.000
-Montenegro: —
→ Tổng đối thủ phía Đông: 2.997.000
→Tổng cộng đối thủ Đông + Tây: 5.379.000¹
___
¹) Trong số đó chưa tính đến:
-Pháp: 127.000 quân tại Corsica và Bắc Phi,
-Nga: 350.000 quân tại Siberia và Turkestan,
-Anh: các lực lượng tăng viện có thể điều động từ thuộc địa và từ Lục quân lãnh địa,
tổng cộng ít nhất 477.000 quân, nhờ đó tổng binh lực của đối phương có thể tăng lên tới 5.856.000 người hoặc hơn nữa.
___
Sự đối chiếu này cho thấy các Liên minh Trung tâm bị rơi vào tình thế cực kỳ bất lợi. Rằng việc phải tính đến trường hợp ấy là hoàn toàn có cơ sở, như các sự kiện sau đó đã chứng minh.
Trong năm 1914, Tổng tham mưu Đức cho rằng, trong trường hợp chiến tranh, đối phương sẽ huy động lực lượng dã chiến (không kể các đơn vị tương ứng với Landwehr của ta) với quy mô tổng thể như sau:
Ở phía Đông:
-Khoảng 112 sư đoàn Nga và Serbia.
-Khoảng 18 sư đoàn khác có thể được đưa từ châu Á sang, nhưng chỉ sau khi 1 tháng kể từ khi chiến tranh bắt đầu và những đơn vị cuối cùng trong số đó thậm chí còn đến muộn hơn đáng kể, mới có thể xuất hiện trên chiến trường châu Âu.
Ở phía Tây:
-Khoảng 92 sư đoàn Pháp, Anh và Bỉ, trong đó cần lưu ý rằng, ngoài các đơn vị này, còn có:
-Các sư đoàn lãnh địa (Landwehr-) của Pháp, và các lực lượng đồn trú và lực lượng thay thế của Pháp và Bỉ, những lực lượng này, trong cuộc chiến trên chính lãnh thổ của mình, phải được tính đến theo một kiểu hoàn toàn khác so với các đội hình tương ứng của Đức.
Chắc chắn không thể hoàn toàn loại trừ khả năng rằng Bỉ sẽ cho quân Đức hành quân qua lãnh thổ của mình, và từ bỏ việc kháng cự; rằng Anh sẽ không lập tức tung Binh đoàn Viễn chinh của mình vào tham chiến; và cuối cùng, rằng Ý có thể vẫn gửi quân tới mặt trận Đức, hoặc ít nhất là cầm chân một phần quân Pháp tại chính biên giới của mình.
Tuy nhiên, ngay cả khi những điều kiện thuận lợi như vậy thực sự xảy ra, thì đối với quân đội của các Liên minh Trung tâm, vẫn còn tồn tại một nhiệm vụ cực kỳ nặng nề, với những ràng buộc phức tạp và khó lường.
Theo kế hoạch vũ trang lập ra cho năm 1914, Lục quân dã chiến Đức, kể cả hai sư đoàn pháo đài, dự kiến có tổng cộng 87,5 sư đoàn bộ binh (trong đó có 29 sư đoàn dự bị và 6,5 sư đoàn Ersatz).
Những đội hình này, khi so sánh với đối phương dự kiến ngang bằng về vũ khí và trang bị nhẹ. Về pháo binh hạng nặng thì vượt trội, nhưng về không quân thì lại thua kém người Pháp.
Ngoài ra, các đội hình Landwehr (44,5 lữ đoàn, trong đó có 8 lữ đoàn không cơ động) do thiếu thốn phương tiện, cũng không thể được trang bị đầy đủ dù chỉ gần tương đương. Vì vậy, ngoài việc bao gồm các lứa tuổi cao hơn, ngay từ vũ khí và trang bị (không có súng máy, pháo binh rất ít, không có máy bay, không có bếp dã chiến, không có cơ sở quân y, không có các đoàn vận tải tiếp tế) là đã không thích hợp cho việc chiến đấu ở địa hình mở với một đối phương với đầy đủ sức mạnh, và do đó, trong các phân tích của chương này, cũng như các đơn vị tương ứng của những cường quốc khác, thì những lực lượng kiểu như này không được tính đến.
Các đơn vị dã chiến của quân đội Áo–Hung được đưa vào sử dụng với khoảng 49 sư đoàn bộ binh, nhưng về mặt pháo binh thì được trang bị hết sức không đầy đủ.
Các chỉ thị hành quân của Lục quân Đức cho năm 1914 quy định rằng, tổng cộng ban đầu chỉ có chín sư đoàn của lục quân phải ở lại đối phó với nguy cơ từ phía Đông, trong khi 70 sư đoàn còn lại lập tức hành quân sang phía Tây.
Trong đó có 8,5 sư đoàn còn lại có thể sử dụng, trong đó bao gồm 6,5 sư đoàn Ersatz chỉ sẵn sàng muộn hơn đôi chút, Tổng tham mưu trưởng von Moltke dự định dùng thêm năm sư đoàn cho mặt trận phía Đông, như vật tại đó tổng cộng có 14 sư đoàn.
Theo tinh thần này, Tổng tham mưu trưởng Áo–Hung cũng đã được thông báo vào ngày 2 tháng 8 năm 1914. 3,5 sư đoàn còn lại trước hết phải sẵn sàng đối phó với khả năng địch đổ bộ lên bờ biển Đức, và sau đó, tùy theo tình hình, có thể được sử dụng tiếp, nếu có thể thì ở phía Tây.
Tại đó, 73,5 sư đoàn Đức sẽ phải đối đầu với ưu thế áp đảo của Pháp–Anh–Bỉ gồm có 92 sư đoàn, và họ phải giành được một chiến thắng quyết định!
Tổng tham mưu trưởng Đức khi ấy không tuyệt vọng trước khả năng giải quyết một nhiệm vụ khó như vậy, là bởi ông dựa vào niềm tin rằng nhân dân Đức, trong một cuộc chiến bị áp đặt lên họ, sẽ đồng lòng và đầy nhiệt huyết cầm vũ khí, và rằng “tinh thần của cả một dân tộc, khả năng chịu đựng chiến tranh, lòng dũng cảm, khả năng hy sinh, kỷ luật và sự khéo léo trong chỉ huy” phải được đánh giá cao hơn so với **“những con số chết”**¹.
___
¹ Bản ghi nhớ cuối tháng 11 năm 1911.
___
Toàn bộ sức mạnh của Lục quân Đức, dưới quyền chỉ huy tối cao của Hoàng đế, sẽ phải đối mặt với nhiều kẻ thù không hề thống nhất.
Và Lục quân Đức, theo niềm tin cá nhân của Tổng tham mưu trưởng von Moltke, với sức mạnh nội tại của mình, không chỉ cầm cự mà còn đánh bại được đội quân mạnh nhất của đối phương — chính là quân đội Pháp — với điều kiện là quân số ngang bằng, mặc cho tình thế quân sự tổng thể đối với Đức là bất lợi.
Vào tháng 8 năm 1870, 474 tiểu đoàn Đức đã chiến đấu chống lại 331 tiểu đoàn Pháp, và dù trong điều kiện khởi đầu thuận lợi, vẫn phải mất nửa năm mới có thể đánh bại nước Pháp vốn lạc hậu về quân sự khi đó. Năm 1914, trước hết cần phải xem liệu chưa đến 80 sư đoàn Đức có thể đạt được cùng một kết quả trước 92 sư đoàn địch, trong thời gian ngắn hơn nhiều, và lại trên một quốc gia đã được chuẩn bị quân sự đến mức tối đa hay không.
Vào năm 1870, ta đã coi nước Nga là một nước trung lập; nay thì Đế quốc Nga lại đứng ở phía đối phương. **“Yêu cầu cấp bách phải đánh bại kẻ thù này bằng lực lượng mạnh nhất của Đức, không bị suy yếu bởi Áo–Hung, là đây điều không thể thực hiện được”**¹, nếu đồng thời phải giao tranh tại biên giới phía Đông. Ta phải chuẩn bị tinh thần rằng đối phương ở phía Đông có thể tiến sâu vào lãnh thổ Đức. Sau một cuộc chiến chống Pháp thì quân Đức sẽ phải bước vào một cuộc chiến tranh thứ hai, còn nặng nề hơn, chống lại quân đội Nga đã được chuẩn bị đầy đủ và tung toàn lực.
---
¹ Phán đoán của Tổng tham mưu Đức trong một bản ghi nhớ về quân đội Áo–Hung năm 1913.
---
Do đó, Tổng tham mưu trưởng Đức khi đối diện với cuộc chiến mà ông coi là không thể tránh khỏi, luôn chỉ có thể nhìn nó với mối lo ngại nghiêm trọng nhưng chính đáng.
Những suy tư chuẩn bị chiến tranh đã để lại dấu ấn sâu sắc đến mức, niềm hy vọng của Tổng tham mưu trưởng Đức dường như hoàn toàn biến mất. Quan điểm của ông được tìm thấy trong bản thảo của một kế hoạch tác chiến năm 1901/02, với lời phát biểu rất nổi tiếng:
“Chúng ta không muốn đi chinh phục, mà chỉ muốn bảo vệ những gì chúng ta đã sở hữu. Chúng ta sẽ không bao giờ là kẻ tấn công, mà luôn luôn là bên bị tấn công. Nhưng thành công nhanh chóng cần thiết chỉ có thể đạt được bằng việc quyết tâm tiến công trước.”
Chương II: Chiến tranh bùng nổ
Ngày 28 tháng 6 năm 1914, tại Sarajevo, người thừa kế ngai vàng của Áo–Hung cùng với phu nhân đã bị ám sát. Không có gì phải nghi ngờ rằng đây là một vụ ám sát thuần túy mang tính chính trị, được tiến hành phục vụ cho những nỗ lực của phe phái Đại Serbia nhằm chống lại sự tồn tại của chế độ quân chủ sông Donau.
Xét theo toàn bộ những gì đã diễn ra trước đó, trước thách thức nghiêm trọng và mới nhất này, tại Wien người ta đã quyết tâm chấm dứt các hoạt động khuynh loát của Serbia. Để làm được điều đó, người ta muốn bảo đảm, trong mọi trường hợp, sự hậu thuẫn của Đức.
Ý định của chính phủ Wien đã được Hoàng đế Đức biết đến vào ngày 5 tháng 7 tại Potsdam, thông qua một bức thư tay của Hoàng đế Franz Josef và một bản ghi nhớ của chính phủ Áo–Hung. Trong câu trả lời được gửi tới Wien vào ngày hôm sau, liên quan đến Serbia, có nêu rằng Hoàng đế Đức, “trong những vấn đề đang lơ lửng giữa Áo–Hung và quốc gia này, theo lẽ tự nhiên không thể có lập trường, vì những vấn đề ấy vượt ngoài thẩm quyền của mình. Tuy nhiên, Hoàng đế Franz Josef có thể tin tưởng rằng Bệ hạ, phù hợp với các nghĩa vụ đồng minh và tình hữu nghị lâu đời, sẽ trung thành đứng về phía Áo–Hung”¹.
___
¹ Thủ tướng Đế chế gửi Đại sứ tại Wien ngày 6 tháng 7 năm 1914; in trong: “Các văn kiện Đức về sự bùng nổ của chiến tranh”, Charlottenburg 1919, số 15.
___
Vào chiều ngày 5 tháng 7, Hoàng đế cho triệu tập Bộ trưởng Chiến tranh Phổ, Thượng tướng von Falkenhayn, và thông báo cho ông về tình hình. Cuối cùng, Hoàng đế hỏi liệu lục quân có sẵn sàng trong mọi trường hợp hay không. Thượng tướng von Falkenhayn khẳng định rằng lục quân đã sẵn sàng ; do vậy Hoàng đế cho rằng không cần phải chuẩn bị thêm nữa.
Tổng tham mưu trưởng, Đại tướng von Moltke, lúc đó vừa bắt đầu một đợt nghỉ dưỡng dài ngày tại Karlsbad, thì được Bộ trưởng Chiến tranh lập tức gửi thư cho ông, thông báo những gì đã biết được trong buổi tiếp kiến tại Potsdam. Theo những thông tin do Đại sứ Áo–Hung cung cấp, Hoàng đế cho rằng có thể giả định rằng chế độ quân chủ sông Donau đã quyết tâm “không dung thứ thêm nữa những âm mưu được kích động trên bán đảo Balkan chống lại Áo, và vì mục đích đó, nếu cần thiết, trước hết sẽ hành động tại Serbia; nếu Nga không chấp nhận điều này, thì Áo sẽ không sẵn sàng nhượng bộ”.
Tuy nhiên, từ những văn kiện do Đại sứ Áo–Hung trao tận tay, Bộ trưởng Chiến tranh không thể đi đến xác tín rằng chính phủ Wien đã có một quyết tâm kiên định. Ông cho rằng mình thống nhất quan điểm này với Thủ tướng Đế quốc von Bethmann Hollweg, và điều đó cho thấy rằng chính phủ Wien, “dù sao thì so với trước đây, đã tỏ ra nghiêm túc hơn trong lời lẽ của mình”. Trong mọi trường hợp, những tuần sắp tới chắc chắn sẽ mang lại một quyết định.
Tuy nhiên, mặc dù không có nhiệm vụ chính thức phải làm vậy, ông vẫn cho rằng cần thiết phải thông báo cho Tổng tham mưu trưởng về “sự căng thẳng ngày càng gia tăng của tình hình”, để chiến tranh— vốn cuối cùng rồi cũng có thể xảy ra — sẽ không đến một cách hoàn toàn bất ngờ.
Sau buổi tiếp kiến với Bộ trưởng Chiến tranh, vào chiều ngày 5 tháng 7 và sáng hôm sau, Hoàng đế còn cho triệu tập mỗi lần một sĩ quan của Bộ Hải quân Đế chế và Bộ Tổng tham mưu Hải quân, cũng như sĩ quan cao cấp nhất của Đại Tham mưu, khi đó là Thượng tướng von Bertrab. Nhiệm vụ của ông là thông báo cho Tổng tham mưu trưởng đang vắng mặt.
Hoàng đế đã lần lượt tiếp các sĩ quan này, mỗi lần chỉ nói chuyện rất ngắn, thông báo cho họ về buổi tiếp kiến với Đại sứ Áo–Hung, và nói thêm rằng Ngài không tin vào những biến động chiến tranh lớn hơn; Nga sẽ không đứng về phía những kẻ ám sát các vương tử; Nga và Pháp chưa sẵn sàng cho chiến tranh; không cần phải ban hành những mệnh lệnh đặc biệt nào¹.
___
¹ Deutsche Dokumente a. a. O., tập I, tr. XIV và XV.
___
Ngày 6 tháng 7, Hoàng đế lên đường cho chuyến du ngoạn Bắc Âu. Tổng tham mưu trưởng Đức vẫn tiếp tục ở Karlsbad. Hạm đội Biển Bắc theo kế hoạch đã khởi hành chuyến đi tới vùng biển Na Uy vào ngày 15 tháng 7.
Trong khi đó, người ta nhận được tin từ Tùy viên quân sự tại Wien rằng Áo–Hung dự định hoãn hành động chống Serbia cho đến khi kết thúc kỳ nghỉ của các Hoàng tộc, tức là đầu tháng 8, và rằng vào khoảng ngày 25 tháng 7 sẽ trao một yêu cầu có thời hạn tại Belgrad. Tuy nhiên, cho đến lúc đó vẫn chưa có bất kỳ sự chuẩn bị quân sự nào được tiến hành.
Bên lề bản báo cáo cuối cùng này, Đại tướng von Moltke viết:
“Nếu bản giao thiệp chỉ được tiến hành vào ngày 25 tháng 7, thì sẽ còn nhiều nước chảy xuống sông Donau trước khi sự việc đi xa hơn.”
Ngày 23 tháng 7, Áo–Hung đưa ra “Tối hậu thư” tại Belgrad. Ngày 25 tháng 7, Serbia ban hành lệnh vũ trang toàn quốc, qua đó bộc lộ rõ ý chí chiến đấu; ba giờ sau, một câu trả lời không làm thỏa mãn chế độ quân chủ sông Donau được đưa ra. Buổi tối cùng ngày, Hoàng đế Franz Josef ra lệnh tiến hành vũ trang một phần nhằm chống Serbia; biện pháp này bao trùm gần một nửa lực lượng quân đội của ông.
Đó là tình hình khi Tổng tham mưu trưởng Đức sau khi kết thúc kỳ nghỉ dưỡng đã trở về Berlin. Trước đó, ông chưa từng được hỏi ý kiến. Ngay cả với Tổng tham mưu trưởng Áo–Hung, trong thời gian lưu trú tại Karlsbad, ông cũng không gặp mặt; thực tế, lần cuối cùng ông trao đổi với người này là trong kỳ nghỉ dưỡng trước đó tại đây vào tháng 5. Kể từ đó, giữa hai Tổng tham mưu trưởng không còn có sự trao đổi ý kiến nào nữa.
Ngày 26 tháng 7, Đại tướng v. Moltke có một cuộc trao đổi với Thủ tướng Đế chế v. Bethmann Hollweg. Khi đó đã có những tin tức từ Petersburg về các chuẩn bị vũ trang của Nga nhằm vào Áo–Hung. Những tin này làm cho nguy cơ của một cuộc đại chiến trở nên gần hơn. Thượng tướng v. Moltke đồng ý với Thủ tướng rằng, “chừng nào Nga chưa thực hiện một hành động thù địch, thì lập trường của chúng ta – vốn hướng tới việc khoanh vùng xung đột – phải được giữ bình tĩnh”. Tuy nhiên, một tình thế đã nảy sinh, đặt ban lãnh đạo nhà nước trước một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn.
Mong muốn tránh một cuộc đại chiến buộc phải thể hiện sự kiềm chế tối đa trong mọi hình thức chuẩn bị quân sự; nhưng mặt khác, an ninh của đất nước lại đòi hỏi rằng, về mặt quân sự, không được để mình chậm chân hơn so với kẻ thù tiềm năng. Trong hoàn cảnh ở trung tâm châu Âu, điều này đặc biệt nguy hiểm. Nếu người Nga thành công trong việc trì hoãn quyết định chiến tranh hay hòa bình cho đến khi họ đã hoàn thành giai đoạn vũ trang, thì — đặc biệt trong trường hợp Áo–Hung đồng thời bị đe dọa từ phía Nam — một tình thế sẽ phát sinh mà trong đó sức mạnh quân sự của các cường quốc Trung tâm hoàn toàn sẽ bị áp đảo. Nỗi lo ngại rằng Nga sẽ hành động như vậy dựa trên những hiểu biết mà Đại Tham mưu đã có từ lâu về cách thức tiến hành của Nga, theo đó Nga trước khi chính thức bước vào chiến tranh nhiều khả năng sẽ tiến hành vũ trang từ từ.
Như một bước mở đầu cho việc vũ trang có thể xảy ra, họ đã tính đến một “thời kỳ chuẩn bị chiến tranh”, cho phép trong khi vẫn tiếp tục đàm phán, tiến hành hàng loạt biện pháp nhằm chuẩn bị việc vũ trang sao cho quân đội Nga trên thực tế đã sẵn sàng chiến đấu, trước khi khi việc vũ trang được chính thức tuyên bố. Bằng cách đó, Nga dự định bù đắp lợi thế về thời gian mà các cường quốc Trung tâm có thể có được trong việc chuẩn bị lực lượng vũ trang của mình. Ngoài ra, tại Nga vào mùa đông 1912/13, họ còn để nguyên một quy định tạm thời có hiệu lực, theo đó việc vũ trang toàn quốc đồng thời cũng có nghĩa là tuyên chiến. Do đó, ta phải tính đến khả năng rằng Nga sẽ tìm cách tiếp tục kéo dài thời gian thông qua đàm phán, ngay cả sau khi đã tuyên bố vũ trang.
Việc những lo ngại như vậy không phải là không có cơ s, bởiở đã được chứng minh bằng một văn kiện Nga, được biết đến sau này, trong đó – làm lý do cho việc sửa đổi nêu trên vào mùa đông 1912/13 – đặc biệt nêu ra rằng, *“việc tiến quân mà không bắt đầu các hành động thù địch có thể tỏ ra có lợi, để không tước bỏ một cách không thể đảo ngược hy vọng của đối phương rằng chiến tranh vẫn còn có thể tránh được. Các biện pháp của chúng ta trong trường hợp này phải được che đậy bằng những cuộc đàm phán ngoại giao khéo léo, nhằm xoa dịu tối đa những lo sợ của đối phương. Nếu những biện pháp như vậy tạo ra khả năng giành được thêm vài ngày, thì chúng nhất thiết phải được thực hiện”*¹).
___
¹) Trích từ một biên bản về công tác vũ trang của Nga vào ngày 8 tháng 11 năm 1912, in trong ấn phẩm do Đại Tham mưu xuất bản năm 1919: “Russlands Mobilmachung”.
___
Nếu người Nga thành công trong việc áp dụng một phương thức như vậy, thì lợi thế về thời gian, trên đó kế hoạch chiến tranh của các cường quốc Trung tâm được xây dựng và mọi thứ phụ thuộc vào việc bảo toàn nó, sẽ bị đánh mất. Đức và Áo–Hung ngay từ đầu sẽ rơi vào một tình thế bất lợi đến mức, ngay cả bằng kỹ năng chỉ huy và năng lực chiến đấu vượt trội của lục quân, cũng không thể bù đắp được nữa. Trong trường hợp Nga tiến hành các chuẩn bị chiến tranh cũng nhằm vào Đức, thì Đức sẽ bị buộc phải — ngay cả khi Nga chưa chính thức tuyên bố vũ trang — tự mình tiến hành vũ trang, xét vì an ninh của chính mình.
Để ngăn Nga thực hiện những bước đi như vậy, vốn sẽ kéo theo các biện pháp đối phó của Đức và do đó dẫn đến cuộc đại chiến, ta cho rằng cần phải ngay từ bây giờ chỉ ra cho chính phủ Sa hoàng thấy tầm mức nghiêm trọng của một hành động thù địch có thể xảy ra nhằm vào Đức. Vì vậy, ngày 26 tháng 7, Đại sứ Đức tại Petersburg được chỉ thị thông báo với Ngoại trưởng Nga Sasonov rằng, “những biện pháp quân sự mang tính chuẩn bị của Nga, nếu có bất kỳ mũi nhọn nào hướng chống lại chúng tôi, sẽ buộc chúng tôi phải tiến hành các biện pháp đối phó, mà những biện pháp đó sẽ phải bao gồm việc vũ trang quân đội. Nhưng vũ trang có nghĩa là chiến tranh, và hơn nữa sẽ phải đồng thời nhằm chống lại Nga và Pháp, bởi các nghĩa vụ của Pháp đối với Nga là điều đã được biết rõ”.
Ngày 27 tháng 7, Hoàng đế – người đã cắt ngắn chuyến du ngoạn phương Bắc vào ngày 25 – và trở lại Potsdam. Tình hình ngày càng trở nên căng thẳng; các tin tức về chuẩn bị chiến tranh của Nga ngày một gia tăng. Từ các khu vực giáp ranh với Đức, đã có những báo cáo về các biện pháp quân sự. Ngày 28 tháng 7, tướng von Moltke được biết rằng Bộ trưởng Chiến tranh Nga Sukhomlinov đã nói với Tùy viên quân sự Đức ngay từ ngày 26 tháng 7 rằng: nếu Áo–Hung vượt qua biên giới Serbia, thì các quân khu được bố trí để chống lại Đế quốc sông Donau (Kiev, Odessa, Moskva và Kazan) sẽ được đặt trong tình trạng vũ trang.
Bản báo cáo tình hình của Đại Tham mưu Lục quân ngày 28 tháng 7, lúc 4 giờ chiều, kết luận từ các tin tức về việc Nga đang tăng cường quân bị bằng việc vũ trang từng phần, đặc biệt là tại các quân khu phía nam, đã được ban hành; đồng thời Nga cũng đang tiến hành những biện pháp quân sự nhất định tại biên giới Đức, những biện pháp này phải được xem là để chuẩn bị cho chiến tranh. Nhiều khả năng đây là sự tuyên bố bắt đầu “thời kỳ chuẩn bị chiến tranh” cho toàn bộ Đế quốc. Trên thực tế, ngày 26 tháng 7 đã là ngày đầu tiên của thời kỳ chuẩn bị chiến tranh tại Nga.
Đồng thời, từ Pháp cũng đã có những tin tức đầu tiên về các biện pháp chuẩn bị quân sự: trong đó có việc triệu hồi binh sĩ từ các bãi tập và tăng cường canh gác các công trình đường sắt. Những biện pháp tương ứng như vậy giờ đây cũng không thể trì hoãn thêm tại Đức. Chúng đã được ban hành trong chiều và tối ngày 29 tháng 7.
Trong một bản ghi nhớ về tình hình mà tướng von Moltke trình lên Thủ tướng Đế chế vào ngày này, ông đã trình bày quan điểm của mình một cách chi tiết. Ông kết luận như sau:
“Không thể phủ nhận rằng sự việc này đã được Nga dàn dựng có chủ ý. Trong khi liên tục trấn an rằng họ chưa ‘vũ trang’, mà chỉ tiến hành những chuẩn bị ‘cho mọi trường hợp’, rằng cho đến nay họ chưa triệu tập quân dự bị, thì trên thực tế họ đã đặt mình vào tình trạng sẵn sàng chiến tranh đến mức, nếu thực sự tuyên bố vũ trang, họ có thể sẵn sàng hành quân chỉ trong vài ngày.
Qua đó, Nga đẩy Áo–Hung vào một tình thế tuyệt vọng và chuyển trách nhiệm sang phía Áo–Hung, bởi vì chính Nga buộc Áo–Hung phải tự bảo đảm trước một đòn tấn công bất ngờ của Nga.
Họ sẽ nói: ‘Ngươi, Áo–Hung, đã vũ trang chống lại chúng ta, vậy là ngươi muốn chiến tranh với chúng ta.’
Đối với Đức, Nga cam đoan rằng không có ý định làm gì, nhưng họ biết rất rõ rằng Đức không thể đứng nhìn một cách thụ động trước một cuộc xung đột vũ trang giữa đồng minh của mình và Nga.
Đức cũng sẽ bị buộc phải vũ trang, và khi đó Nga lại có thể nói với thế giới rằng: ‘Tôi không muốn chiến tranh, nhưng Đức đã gây ra nó.’
Sự việc sẽ – và phải – diễn biến như vậy, nếu như không xảy ra, gần như có thể nói là, một phép màu, để trong giờ phút cuối cùng còn có thể ngăn chặn một cuộc chiến, cuộc chiến sẽ tàn phá nền văn minh của gần như toàn bộ châu Âu trong nhiều thập kỷ.”
Đức sẽ không gây ra cuộc chiến khủng khiếp này. Tuy nhiên, Chính phủ Đức biết rằng họ sẽ xúc phạm một cách nghiêm trọng những tình cảm trung thành với liên minh, một trong những nét đẹp nhất của đời sống tinh thần dân tộc Đức, và sẽ đặt mình vào thế đối lập với mọi cảm xúc của nhân dân, nếu trong thời khắc mà sự tồn vong của đồng minh đang bị quyết định, mà họ lại không đưa tay giúp đỡ.
Theo những tin tức hiện có, dường như Pháp cũng đang tiến hành các biện pháp chuẩn bị cho một cuộc vũ trang có thể xảy ra sau này. Rõ ràng là Nga và Pháp đang phối hợp hành động với nhau trong các biện pháp của họ.
Vì vậy, Đức, nếu cuộc xung đột giữa Áo–Hung và Nga trở nên không thể tránh khỏi, sẽ phải vũ trang và sẵn sàng tiến hành chiến tranh trên hai mặt trận.
Đối với các biện pháp quân sự mà trong trường hợp cần thiết chúng ta dự định tiến hành, điều cực kỳ quan trọng là phải sớm nhất có thể làm rõ liệu Nga và Pháp có quyết tâm để chiến tranh với Đức xảy ra hay không. Càng để cho các sự chuẩn bị của các nước láng giềng chúng ta tiếp diễn, thì họ càng có thể kết thúc việc vũ trang của mình nhanh hơn. Do đó, tình hình quân sự đối với chúng ta từng ngày trở nên bất lợi hơn, và nếu các đối thủ dự kiến của chúng ta tiếp tục chuẩn bị trong sự yên ổn hoàn toàn, thì điều đó có thể dẫn đến những hậu quả tai hại đối với chúng ta.”
Yêu cầu mà Đại tướng von Moltke nêu ra trong bản ghi nhớ này — rằng phải sớm nhất có thể đạt được sự rõ ràng về việc Nga và Pháp có muốn để chiến tranh xảy ra hay không — xuất phát từ vị thế của Đức nằm giữa Nga và Pháp. Nó có mối liên hệ chặt chẽ nhất với những biện pháp quân sự đầu tiên đã được chuẩn bị cho trường hợp chiến tranh: ngay sau khi tuyên bố vũ trang, các tuyến đường sắt Luxemburg phải được chiếm giữ, và ngay từ ngày đầu của vũ trang, những chuyến vận chuyển nhất định cho cuộc tiến quân về phía Tây cũng phải được bắt đầu.
Nếu Pháp, trái với mọi dự đoán, vẫn muốn giữ trung lập, thì việc thực hiện các biện pháp này sẽ phải bị đình lại cùng với việc tuyên bố vũ trang. Nhưng chừng nào câu hỏi ai là bạn, ai là thù vẫn chưa được làm rõ, thì một cuộc tổng vũ trang của Nga không thể ngay lập tức được đáp lại bằng một cuộc vũ trang của Đức; cần phải có một khoảng thời gian nhất định trôi qua.
Những nhu cầu đó lẽ ra đã đòi hỏi phải buộc Petersburg và Paris ngay từ lúc này, thông qua những “tuyên bố dứt khoát”, phải bộc lộ rõ lập trường. Tuy nhiên, các lý do quân sự dường như đối với Thủ tướng Đế chế — người chịu trách nhiệm cho toàn bộ sự lãnh đạo của nhà nước — vẫn chưa đủ cấp bách để ông quyết định phá vỡ các nỗ lực trung gian hoà giải đang được Berlin và London khởi xướng đối với Petersburg và Wien. Vì vậy, chính phủ Nga và Pháp chỉ được nhắc nhở một cách hữu hảo về hậu quả của việc tiếp tục các chuẩn bị chiến tranh; chỉ còn yêu cầu làm rõ tình hình mà Tổng tham mưu trưởng yêu cầu đã không đạt được.
Trong khi đó, Áo–Hung đã tuyên chiến với Serbia vào ngày 28 tháng 7. Ngày 29 tháng 7, Nga tuyên bố vũ trang một phần đối với các quân khu phía nam. Việc vũ trang một phần này, tuy trước mắt nhắm vào Áo–Hung, nhưng đã bao hàm trong đó một mối đe doạ nghiêm trọng đối với Đức, bởi nó bao phủ tới hai phần ba lãnh thổ châu Âu của Nga, trong đó đặc biệt là những khu vực nơi phần lớn các đơn vị dự bị được tập hợp — mà tuyệt nhiên không phải tất cả đều được định hướng để chống Áo–Hung.
Để trấn an, Ngoại trưởng Nga Sasonov đã tìm cách thuyết phục Đại sứ Đức vào ngày 29 tháng 7 rằng tại Nga, vũ trang vẫn chưa mang ý nghĩa chiến tranh như ở các quốc gia Tây Âu; quân đội Nga thậm chí có thể đứng hàng tuần lễ với súng trong tay mà không vượt qua biên giới¹.
___
¹ )Deutsche Dokumente a. a. O. Nr. 343.
___
Tuy nhiên, chính điều đó lại sẽ tạo ra tình thế vốn có lợi cho Nga, nhưng về mặt quân sự thì hoàn toàn không thể chịu đựng được đối với các cường quốc Trung tâm. Trong quan điểm cho rằng Nga không chỉ chuẩn bị chiến tranh chống Áo–Hung mà trên toàn bộ mặt trận, Tổng tham mưu trưởng von Moltke còn được củng cố thêm bởi một báo cáo của Tuỳ viên quân sự Đức tại Petersburg. Thiếu tá von Eggeling đã có cuộc trao đổi với Tổng tham mưu trưởng Nga, Đại tướng Yanushkevich, và báo cáo rằng ông xem những lời trấn an của phía Nga — “trước thực tế có rất nhiều tin tích cực về việc gọi nhập ngũ ” — như một nỗ lực nhằm đánh lạc hướng về quy mô thực sự của các biện pháp đã được tiến hành.
Từ Pháp cũng có thêm những tin tức về các chuẩn bị quân sự, khiến Tổng tham mưu trưởng Đức đến tối ngày 30 tháng 7 đi đến nhận định rằng lệnh triển khai lực lượng biên phòng tại đó đã được ban hành, mà theo hiểu biết của Tổng tham mưu Đức, lệnh này — độc lập với lệnh vũ trang toàn quốc — cho phép sẵn sàng triển khai mười một sư đoàn bộ binh và bốn sư đoàn kỵ binh với đầy đủ quân số².
___
²) Thực tế thậm chí là mười sư đoàn kỵ binh.
2) Chính Sa hoàng đã điện báo cho Hoàng đế Đức vào ngày 1 tháng 8, khoảng 2 giờ chiều:
“… Hãy hiểu rằng Ngài bị buộc phải tiến hành vũ trang toàn quốc …”
(Deutsche Dokumente a. a. O. Nr. 546)
___
Tình hình đối với Đức đã trở nên cực kỳ đe doạ. Mối nguy ngày càng lớn là Đức sẽ bị tụt hậu về thời gian trong việc vũ trang. Trong khi đó, câu hỏi mang tính quyết định — ai là bạn, ai là thù — vẫn chưa được làm rõ. Trước lợi thế mà các đối thủ đã giành được trong các chuẩn bị quân sự của họ, Tổng tham mưu trưởng von Moltke nay cho rằng cần thiết phải ít nhất là biên phòng trước nguy cơ các cuộc đột nhập bất ngờ của đối phương.
Vì mục đích đó, chừng nào lệnh vũ trang toàn quốc còn chưa được ban bố,thì kế hoạch vẫn là tuyên bố “tình trạng nguy cơ chiến tranh đe doạ”. Đây thuần tuý là một biện pháp phòng vệ, không đe doạ bất kỳ ai và hoàn toàn không cản trở việc tiếp tục đàm phán. Tuy nhiên, ngay cả mong muốn này của Tổng tham mưu trưởng cũng không được chấp thuận, vì trước hết họ muốn chờ đợi kết quả của các nỗ lực trung gian ngoại giao đã được khởi động. Để duy trì hoà bình, ban lãnh đạo Đế chế muốn tránh mọi biện pháp có thể gây bất an, và vì vậy đã gác lại ngay cả những nhu cầu quân sự cấp bách nhất.
Vào tối ngày 30 tháng 7, Nga mở rộng việc vũ trang một phần trước đó thành vũ trang toàn quốc. Về tầm mức của biện pháp này, giới lãnh đạo tại Petersburg cũng hoàn toàn ý thức rõ³. Do đó, ngày hôm sau thì Đức cũng buộc phải quyết định.
Trong đêm, rạng sáng ngày 31 tháng 7, hai tin tức độc lập với nhau đã đến Tổng tham mưu trưởng, mà theo đánh giá của von Moltke không còn để lại bất kỳ nghi ngờ nào rằng Nga cũng đã ban hành lệnh vũ trang tại biên giới Đức. Tuy nhiên, để hoàn toàn chắc chắn, Tổng tham mưu trưởng vẫn muốn chờ thêm một xác nhận nữa trước khi một lần nữa đề nghị tuyên bố “tình trạng nguy cơ chiến tranh đe doạ”.
Xác nhận đó đã đến vào 11 giờ trưa ngày 31 tháng 7 qua báo cáo chính thức của Đại sứ Đức tại Petersburg. Bá tước Pourtalès điện báo:
“Lệnh vũ trang toàn quốc quân đội và hải quân đã được ban hành. Ngày vũ trang đầu tiên: 31 tháng 7.”
Như vậy, mọi nghi ngờ cuối cùng về ý định của Nga cũng đã tan biến; xét theo lẽ thường thì chiến tranh đã trở thành điều không thể tránh khỏi.
Mãi đến 1 giờ trưa, Hoàng đế Đức mới ra lệnh ban bố “tình trạng nguy cơ chiến tranh sắp xảy ra” đối với lục quân và hải quân; và chỉ từ thời điểm đó, tại cả biên giới phía Đông lẫn phía Tây, lực lượng biên phòng mới đồng loạt được triển khai. Tuy nhiên, do vẫn còn cần những bước làm rõ về mặt ngoại giao, nên bản thân lệnh vũ trang toàn quốc không thể được ban hành trước buổi chiều ngày 1 tháng 8. Vì vậy, theo các kế hoạch chuẩn bị vũ trang đã có, ngày 2 tháng 8 mới được coi là “ngày vũ trang đầu tiên”. So với lệnh vũ trang của Nga, phía Đức đã để mất hai ngày — một bất lợi có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng khi phải giải quyết những nhiệm vụ quân sự vốn đã cực kỳ khó khăn.
Trong một hoàn cảnh còn bất lợi hơn, tình hình tại nền quân chủ sông Donau cũng phát triển theo chiều hướng xấu. Kể từ khi Nga tuyên bố vũ trang một phần vào ngày 29 tháng 7, Áo–Hung đã rơi vào tình thế bị đe dọa nghiêm trọng hơn cả Đức. Ngay cả cuộc vũ trang một phần này của Nga cũng đã bao gồm những lực lượng mạnh hơn toàn bộ quân đội Áo–Hung cộng lại. Tổng tham mưu trưởng Đức từng kỳ vọng rằng Áo–Hung sẽ lập tức đáp trả bằng việc vũ trang phần còn lại của quân đội mình. Tuy nhiên, tại Wien, họ vẫn muốn tránh một cuộc đại chiến và, trước sự do dự có cùng chiều hướng của chính phủ Berlin, đã nảy sinh nghi ngờ liệu Đức có thực sự nghiêm túc và sẵn sàng dốc toàn bộ sức mạnh hay không. Vì vậy, ngay tại Áo–Hung cũng đã chần chừ trong việc thực hiện bước đi cuối cùng mà tình thế quân sự đang khẩn cấp đòi hỏi. Do đó, cuối cùng Tổng tham mưu trưởng von Moltke đã thấy mình buộc phải thúc ép Tướng von Conrad, bằng một bức điện tín¹, yêu cầu lập tức tiến hành vũ trang chống lại Nga.
___
1)Bức điện tín này được gửi tới Wien vào ngày 31 tháng 7 lúc 7 giờ 45 phút sáng. Conrad, Aus meiner Dienstzeit 1906–1918, Wien v.v. 1921–1923, tập IV, tr. 152; — không có trong các hồ sơ lưu trữ của Đức.
___
Vào trưa ngày 31 tháng 7, Áo–Hung tuyên bố vũ trang toàn quốc. Tuy nhiên, vì tại Wien khi đó vẫn chưa nắm được thông tin về việc Nga đã đưa ra lệnh vũ trang toàn quốc, nên đến tận buổi tối cùng ngày, Áo–Hung vẫn quyết định tiếp tục tiến hành chiến tranh chống Serbia, đồng thời giữ thái độ chờ đợi đối với Nga. Những ý định này đã không được hiểu tại Berlin. Chiều ngày 31 tháng 7, Tổng tham mưu trưởng von Moltke đã điện cho Tướng von Conrad, nhân một cuộc trao đổi quan điểm, với lời chất vấn: liệu Áo có định bỏ mặc Đức trong thời khắc quyết định hay không. Cùng ngày đó, vào lúc 4 giờ chiều, Hoàng đế Đức đã trực tiếp liên hệ với Hoàng đế Franz Joseph, nhằm trong giờ phút cuối cùng thuyết phục Áo–Hung chuyển hướng các lực lượng chủ yếu của mình sang đối phó với Nga.
Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, đối với quân đội Áo–Hung, do quá trình triển khai đã được thực hiện trước đó nhằm chống Serbia, một tình thế đã hình thành khiến việc xoay mặt trận sang phía Nga chỉ còn có thể thực hiện với thời gian lâu hơn rất nhiều. Như vậy, ngay từ khi bắt đầu hành quân, nền quân chủ sông Donau đã rơi vào thế bất lợi trước Nga trong nhiều ngày. Lợi thế về thời gian — yếu tố mà trong một cuộc chiến hai mặt trận đối với các cường quốc Trung tâm, — từ đây đã không còn được bảo đảm đầy đủ.
Đồng thời, khả năng Ý thực hiện nghĩa vụ hỗ trợ đồng minh một cách tích cực ngày càng trở nên đáng nghi ngờ. Khi Tổng tham mưu trưởng von Moltke, vào ngày 2 tháng 8, yêu cầu Bộ Ngoại giao làm rõ lập trường của Ý, ông đã nhấn mạnh rằng điều quan trọng không phải là Ý hỗ trợ Đức bằng những lực lượng mạnh, mà là việc Liên minh Ba nước, với tư cách là một khối, phải cùng nhau xuất hiện trong chiến tranh.
Vào ngày 31 tháng 7, lúc 3 giờ 30 phút chiều, ngay sau khi tuyên bố tình trạng “nguy cơ chiến tranh sắp xảy ra”, từ Berlin đã gửi đi những yêu cầu khẩn cấp tới Petersburg và Paris nhằm làm rõ dứt điểm tình hình. Hai chính phủ được thông báo rằng Đức cũng sẽ buộc phải tuyên bố vũ trang nếu Nga không chấm dứt mọi biện pháp chiến tranh nhằm vào Đức và Áo trong vòng mười hai giờ, đồng thời không đưa ra một tuyên bố rõ ràng về vấn đề này. Đối với Paris, còn nhấn mạnh thêm rằng vũ trang đồng nghĩa với chiến tranh. Để tận dụng mọi khả năng cuối cùng, đại sứ được chỉ thị phải hỏi liệu Pháp có sẵn sàng giữ trung lập trong một cuộc chiến Đức–Nga hay không; câu trả lời phải được đưa ra trong vòng mười tám giờ. Ngoài ra, trong trường hợp Pháp tuyên bố trung lập, Đức còn yêu cầu việc tạm thời bàn giao hai pháo đài biên giới lớn là Verdun và Toul để làm vật bảo đảm.
Đối với yêu cầu gửi tới Petersburg, cho đến khi thời hạn kết thúc vào 12 giờ trưa ngày 1 tháng 8, vẫn không có câu trả lời nào được đưa ra. Vì vậy, đại sứ Đức được chỉ thị rằng nếu đến thời điểm đó vẫn chưa nhận được phản hồi thỏa đáng, thì vào lúc 5 giờ chiều họ phải trao bản tuyên chiến cho chính phủ Nga. Đúng vào giờ đó, Hoàng đế Đức đã ra lệnh vũ trang toàn quốc cho lục quân và hải quân. Như vậy, Tổng tham mưu trưởng von Moltke coi nhiệm vụ cấp bách và trước mắt nhất — việc bảo vệ các đường biên giới rộng lớn và không được che chắn của Đế chế — là đã hoàn thành.
Cũng trong buổi chiều cùng ngày, 1 tháng 8, vào lúc 6 giờ 10 phút, từ Paris đã gửi về điện báo của đại sứ với nội dung: Pháp sẽ hành động theo hướng có lợi nhất với mình.1
Tuy nhiên, thực tế là ngay trước đó, và thậm chí trước cả khi Đức ban hành lệnh vũ trang toàn quốc, vào lúc 4 giờ 30 chiều², Bộ trưởng Chiến tranh Pháp đã ban hành lệnh vũ trang toàn quốc.
Tại Đức, ngày 2 tháng 8 được xác định là “ngày vũ trang đầu tiên”. Theo các kế hoạch chuẩn bị đã được tiến hành, ngay trong ngày này các đoàn vận tải quân sự hướng về phía Tây phải bắt đầu được triển khai. Nhưng đúng lúc đó, những nghi ngờ nghiêm trọng mới lại nảy sinh.
Đại sứ tại London, Fürst Lichnowsky, dựa trên những cam kết mà Ngoại trưởng Anh đã gợi mở với ông, tin rằng vẫn còn khả năng giới hạn chiến tranh vào mặt trận phía Đông, với điều kiện là Đức không tấn công Pháp. Trong nỗ lực khẩn thiết nhằm ít nhất khoanh vùng không gian chiến tranh, Hoàng đế và Thủ tướng sẵn sàng chấp nhận cả khả năng hết sức mong manh này, nếu Anh quốc bảo đảm được sự trung lập của Pháp.
Theo đó, Tổng tham mưu trưởng sẽ phải cho quân đội chuyển hướng để tiến công Nga thay vì Pháp. Như vậy, vào tối ngày 1 tháng 8, Đại tướng von Moltke đứng trước một quyết định có thể kéo theo những hậu quả nghiêm trọng nhất.
Sau khi cân nhắc, dù với trái tim nặng trĩu, ông vẫn báo cáo với Hoàng đế, đúng theo trách nhiệm và theo niềm tin đã được ông suy xét kỹ, rằng việc thay đổi kế hoạch triển khai (Aufmarsch) tại thời điểm này đã không còn khả thi. Nếu muốn tránh tịnh trạng hỗn loạn, thì trước hết đợt triển khai về phía Tây phải được triển khai trọn vẹn; chỉ sau đó mới có thể tính đến việc chuyển quân sang phía Đông bằng một đợt triển khai mới.
Nhưng niềm hy vọng vốn được đặt tạm thời vào báo cáo của Fürst Lichnowsky, và suýt nữa đã làm lung lay toàn bộ quá trình triển khai của Đức, đã sụp đổ ngay trong tối hôm đó: Anh quốc thậm chí không sẵn sàng bảo đảm cả sự trung lập của chính mình, ngay cả trong trường hợp Đức tôn trọng hoàn toàn sự trung lập của Bỉ.
Trong khi đó, tại Berlin, tin tức về lệnh vũ trang của Pháp cũng đã được tiếp nhận. Hơn nữa, do đã có nhiều báo cáo về các vụ vượt biên giới của quân Pháp³ gửi tới Đại Tham mưu, nên mọi nghi ngờ cuối cùng đều tan biến. Các biện pháp chiếm đóng Luxemburg, vốn đã tạm dừng do những hy vọng xuất phát từ London, nay lại tiếp tục được triển khai.
Tại Bỉ, quốc gia này đã ra lệnh vũ trang từ ngày 31 tháng 7, Đức yêu cầu một tuyên bố rõ ràng về cách hành xử của Bỉ trong trường hợp quân Đức hành quân qua lãnh thổ nước này. Đại tướng von Moltke cần phải có câu trả lời này, xét đến các chiến dịch sắp diễn ra, chậm nhất vào 2 giờ chiều ngày 3 tháng 8.
Bỉ trả lời rằng họ sẽ chống trả bằng vũ lực bất kỳ sự xâm phạm nào vào nền trung lập của mình.
Ngày 3 tháng 8, dựa trên các vụ xâm phạm biên giới đã xảy ra, Đức tuyên chiến với Pháp; đến ngày 4, Lục quân Đức bắt đầu tiến vào Bỉ mà không có bản tuyên chiến chính thức, bởi khả năng đạt được một sự dàn xếp hòa bình với quốc gia này vẫn chưa bị loại trừ hoàn toàn.
Tuy nhiên, vào tối ngày 4 tháng 8, Bỉ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao, và cũng trong tối hôm đó, Đại sứ Anh tại Berlin yêu cầu, trước nửa đêm, một tuyên bố thỏa đáng về việc bảo đảm trung lập của Bỉ. Sáng ngày 5 tháng 8, ông yêu cầu trả lại hộ chiếu. Anh quốc chính thức tuyên chiến với Đức.
Như vậy, đối diện với Đức và Áo–Hungary trên chiến trường là: Anh, Pháp và Bỉ ở phía Tây, - Nga, Serbia, và không lâu sau đó là Montenegro ở phía Đông.
Ý và Romania dù từ lâu đã liên minh với các Cường quốc Trung tâm trước mắt vẫn giữ thái độ trung lập cùng với phần còn lại của thế giới. Chỉ đến ngày 23 tháng 8 thì Nhật Bản mới gia nhập hàng ngũ kẻ thù của Đức.
Kể từ khi Serbia, vào ngày 25 tháng 7, là quốc gia đầu tiên thể hiện ý chí chiến tranh thông qua việc vũ trang quân đội, các biện pháp quân sự của các cường quốc châu Âu đã diễn ra nối tiếp nhau với tốc độ nhanh chóng. Trình tự thời gian được thể hiện như sau⁴:
-25 tháng 7, 3 giờ chiều: Serbia ban hành lệnh vũ trang toàn quốc.
-9 giờ tối: Áo–Hungary ban hành lệnh vũ trang một phần quân đội chống Serbia.
-26 tháng 7, 3 giờ 26 phút sáng: Nga tuyên bố bắt đầu “thời kỳ chuẩn bị chiến tranh”.
-27 tháng 7: Anh đình chỉ kế hoạch giải trừ vũ trang của hạm đội, vốn đã được tập hợp cho một cuộc vũ trang thử nghiệm.
-29 tháng 7, buổi chiều: Anh ban hành “điện tín cảnh báo” cho lục quân và hải quân (tương đương với “tình trạng chiến tranh sắp xảy ra” của Đức).
Montenegro ra lệnh vũ trang.
Buổi tối: Nga ban hành lệnh vũ trang hơn một nửa quân đội chống Áo–Hungary.
-30 tháng 7, 6 giờ tối:
Nga ban hành lệnh vũ trang toàn quốc toàn bộ lực lượng vũ trang.
Pháp ra lệnh triển khai lực lượng biên phòng chống Đức trong đó gồm 11 sư đoàn bộ binh và 10 sư đoàn kỵ binh được huy động bổ sung).
Đức ra lệnh “bảo đảm an ninh” cho hạm đội.
-31 tháng 7, buổi sáng:
Áo–Hungary ra lệnh “báo động” (triển khai lực lượng biên phòng) chống Nga.
-12 giờ trưa:
Áo–Hungary ban hành lệnh vũ trang toàn quốc.
-1 giờ trưa:
Đức tuyên bố “tình trạng nguy cơ chiến tranh cận kề” (triển khai lực lượng biên phòng).
Bỉ ban hành lệnh vũ trang toàn quốc.
-1 tháng 8, 4 giờ 30 chiều:
Pháp ban hành lệnh vũ trang toàn quốc.
-5 giờ chiều:
Đức ban hành lệnh vũ trang lục quân và hải quân.
-2 tháng 8, 2 giờ 25 sáng:
Anh ban hành lệnh vũ trang hạm đội.
-4 tháng 8, 4 giờ chiều:
Anh ban hành lệnh vũ trang lục quân.
Khi chiến tranh bắt đầu, 118 triệu người Đức, Áo và Hungary phải đối đầu với 258 triệu cư dân da trắng của các quốc gia thù địch, chưa kể dân số thuộc địa của Anh. Nếu tính cả lực lượng này, thì sự áp đảo về quân số của phe đối địch tăng lên khoảng 277 triệu người da trắng, và tính cả các dân tộc da màu thì gần 700 triệu người.
Do Đức và Áo–Hungary, trước ưu thế áp đảo của đối phương trên biển, đã bị loại khỏi các đại dương lớn, nên họ chỉ còn duy trì được những tuyến đường liên lạc hạn chế với thế giới bên ngoài thông qua các đường biên giới trung lập ngắn. Tình thế của họ giống hệt như một pháo đài bị bao vây.
Chiến tranh càng kéo dài, thì những bất lợi về kinh tế và quân sự phát sinh từ hoàn cảnh đó càng gia tăng; đồng thời ưu thế đè bẹp của đối phương về quân số và mọi loại lực lượng hỗ trợ càng ngày càng bộc lộ rõ. Tất cả đều chỉ ra rằng cách cứu vãn duy nhất là phải tìm kiếm một chiến thắng nhanh chóng.
---
¹) Deutsche Dokumente a. a. O. Nr. 258 und Nr. 571.
²) 3 giờ 30 theo giờ Paris.
³ )Xem trang 105, chú thích 1.
⁴) Thời gian tính theo múi giờ Trung Âu.
---
Khối |
Quốc gia |
Dân số (triệu) (1) | Nền quốc phòng vào thời bình | ||
Quân số thời bình (2) | Số quân nhập ngũ | ||||
Tổng số quân dịch có thể huy động (3) | Quân đã huấn luyện (ngoại trừ Hải quân) (4) | ||||
Đối thủ phía Đông | Nga (kể cả lãnh thổ châu Á) | 164 | -Lục quân 1.445.000 | 17.000.000 (21–43 tuổi) | 6.000.000 ≈ 3.5 năm chính quy |
Serbia | 4 | 52.000 | 440.000 (18–50 tuổi) | ? ≈ 1.5 năm chính quy | |
Montenegro | 0,4 | 2.000 | ?— (18–62 tuổi) | ? tối đa 1 năm chính quy | |
Tổng cộng | 168,4 | _ | _ | _ | |
Đối thủ phía Tây |
Pháp | 36,6 Thuộc địa: | -Lục quân: 827 000 | 5.940.000 (không kể da màu) 20-48 tuổi | 4 980 000 ≈ 3 năm chính quy |
Anh | 46 Thuộc địa: | -Lục quân (bao gồm thuộc địa): 248 000 |
Không có nghĩa vụ quân sự | -Lục quân: 458 000 | |
Bỉ | 7,5 | 48.000 Da màu ? | ? — (19–32 tuổi) | ? ≈ 1.5 năm chính quy | |
Tổng cộng | 90 | _ | _ | _ | |
Tổng cộng các đối thủ | 258 |
|
|
| |
Các Cường quốc Trung Tâm | Đức | 67 | -Lục quân: 761 000 | 9.750.000 17–45 tuổi | 4.900.000 2 năm chính quy |
Áo–Hungary | 51 | -Lục quân: 478 000 | 6.120.000 19–42 tuổi | 3.000.000 2/3 trong số này phục vụ 2 năm chính quy, còn lại chỉ 8-10 tuần | |
Tổng cộng | 118 | _ | _ | _ | |
Nền quốc phòng vào thời chiến | |||||||
Quốc gia | Các lực lượng mặt đất | Hải quân | |||||
Tổng cộng(5) | Lực lượng dã chiến cho chiến tranh tại lục địa Châu Âu (chỉ bao gồm các đội hình chính quy và dự bị) |
Tại thuộc địa (9) | Chiến hạm lớn (10) | Giãn nước theo tấn (của cả hạm đội) (11) | |||
Sức mạnh (6) | Sư đoàn bộ binh (7) | Sư đoàn kỵ binh (8) | |||||
Nga (kể cả lãnh thổ châu Á) | 4- 5 000 000 | 3 400 000 | 114,5 | 36 | - | 4 (tại Biển Đông) | 328 000 |
Serbia | 380 000 | 247 000 | 11,5 | 1 | - | - | - |
Montenegro | 60 000 | - | - | - | - | - | - |
Tổng cộng đối thủ phía Đông | 5 000 000 | 3 647 000 | 126 | 37 | - | 4 | 328 000 |
Pháp | 3 781 000 (ở Pháp và Bắc Phi) | ít nhất 1 800 000 | 80 | 10 | 70 000 (không tính Bắc Phi) | 10 | 731 000 |
Anh | khoảng 1 000 000 (toàn bộ các thuộc địa) | 162 000 | 6 | 1 | Da trắng: 335 000 | 29 | 2 205 000 |
Bỉ | 300 000 | 117 000 | 6 | 1 | ? | - | - |
Tổng cộng đối thủ phía Tây | 5 000 000 | 2 079 000 | 92 | 12 | - | 39 | 2 936 000 |
Tổng cộng các đối thủ | 10 000 000 | 5 726 000 | 218 | 49 | - | 43 | 3 264 000 |
Đức | 3 822 000 | 2 147 000 | 87,5 | 11 | Khoảng 10 000 | 17 | 1 019 000 |
Áo–Hungary | 2 300 000 | 1 338 000 | 49,5 | 11 | - | 3 | 249 000 |
Tổng cộng | 6 122 000 | 3 485 000 | 137 | 22 | - | 20 | 1 268 000 |
Chú thích trang 38/39
Bảng tổng quan trình bày tương quan lực lượng thực tế khi chiến tranh bùng nổ và do đó cũng cho phép so sánh mức độ chuẩn bị quân sự của từng quốc gia trước chiến tranh, trong chừng mực sự so sánh như vậy có thể thực hiện được xét theo những nhu cầu khác nhau của họ.
Các số liệu một phần dựa theo các tính toán của Đại tướng Bá tước Montgelas (Ủy ban Điều tra, Tập 1, tr. 100-tiếp theo; và Tập 2, tr. 60-tiếp theo). Do thiếu tài liệu đầy đủ, một số số liệu phải được thay bằng dấu hỏi.
Cột 1. Trong tổng số chung không tính dân số các thuộc địa.
Cột 4. Thiếu các số liệu tương ứng cho hải quân. Tuy nhiên điều này hầu như không ảnh hưởng đến bức tranh tổng thể, vì ở đó chủ yếu là nhân sự phục vụ lâu dài và so với lục quân thì số lượng cũng rất nhỏ. Chỉ riêng việc vũ trang của Anh sẽ trông có vẻ mạnh hơn đôi chút nếu tính thêm nhân sự hải quân.
Khi so sánh số lượng quân đã được huấn luyện, cần lưu ý rằng ở Anh cũng như ở Áo–Hung, một phần rất lớn trong số họ chỉ được huấn luyện rất không đầy đủ (chỉ vài tuần).
Cột 7 và 8. Các lữ đoàn độc lập hoặc vượt biên chế được tính tương đương ½ sư đoàn.
Nga:
Cột 2. Quân số thời bình nêu ra chỉ áp dụng cho mùa hè; vào mùa đông tăng thêm 1/3.
Cột 7. Sư đoàn bộ binh mạnh hơn 1/3 so với các cường quốc khác (16 thay vì 12 tiểu đoàn).
Serbia:
Cột 2. Quân số thời bình nêu ra từ lễ Phục sinh 1914 đã được tăng lên khoảng 90.000 người do gọi nhập ngũ tân binh từ Tân Serbia và gọi dự bị.
Montenegro:
Cột 6–8. Không có các đơn vị dã chiến thích hợp cho cuộc đại chiến.
Pháp:
Cột 6 và 7. Đã tính cả lực lượng dự bị chủ yếu của các pháo đài; ngoài ra còn có 18 lữ đoàn bộ binh dự bị cấp quân đoàn, được tính chung tương đương 6 sư đoàn.
Anh:
Cột 6. Đã tính cả các đơn vị hậu cần của “Quân đoàn Viễn chinh”.
Đức:
Cột 6–8. Đã tính các đơn vị đường sắt, cơ giới và hậu cần của lục quân, 6½ sư đoàn thay thế và lực lượng dự bị chủ yếu của các pháo đài.
Chương III: Sản xuất chiến tranh và kinh tế
Trong nửa sau thế kỷ XIX, Đức từ một quốc gia nông nghiệp đã trở thành quốc gia công nghiệp và thương mại hàng đầu tại lục địa Châu Âu. Dân số của nước này đã tăng gấp đôi; gần ba phần tư dân chúng làm các nghề ngoài nông nghiệp và tập trung dày đặc trong các thành phố và khu công nghiệp.
Đối với Đế chế Anh, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Nga, và thậm chí cả Pháp với dân số gần như đứng yên, đều có trong tay những lãnh thổ rộng lớn với quy mô của cả châu lục; và trong những thập niên cuối, họ còn mở rộng đáng kể những sở hữu ấy thông qua việc đi chinh phục hoặc bằng việc giành lấy các khu vực có lợi ích cho mình. Trái lại, kể từ khi thống nhất năm 1871, trong một chính sách hòa bình kiên quyết, Đức chỉ tham gia vào cuộc chạy đua chung nhằm giành thêm đất mới trong chừng mực để tránh không rơi vào xung đột với các cường quốc khác. Ngoài một số thuộc địa khiêm tốn, vì thế nước này vẫn bị giới hạn trong những vùng cư trú cũ của mình.
Mặc dù đạt được những tiến bộ lớn trong kỹ thuật nông nghiệp và khai khoáng, đất đai trong nước ngày càng không đủ để cung cấp nguyên liệu nhằm đáp ứng nhu cầu tăng nhanh cả về số lượng lẫn tính chất. Mức tăng tự nhiên hằng năm — số sinh vượt số tử — từ 800.000 đến 900.000 người khiến việc phải bảo đảm lương thực và nguyên liệu trở thành nhu cầu bức thiết, thông qua việc tăng cường xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chất lượng cao, thông qua thành tựu lớn của ngành vận tải biển thương mại, và thông qua lợi tức từ các doanh nghiệp hoặc đầu tư vốn ở khắp các châu lục.
Vì vậy, thay vì đi chinh phục, dân tộc Đức đã tìm cách lao động chăm chỉ, tận dụng mọi thành tựu khoa học cho nền kinh tế, để mở rộng không gian sinh tồn của mình và duy trì vị thế ngang hàng với các đế chế trên thế giới.
Thực tế, việc này đã thành công trong việc gia tăng mức độ sự thịnh vượng cho mọi tầng lớp dân cư. Việc di cư ra nước ngoài gần như chấm dứt, và các cuộc điều tra dân số nhiều lần cho thấy Đức nhập khẩu nhiều người hơn là xuất khẩu. Nhưng khi thương mại Đức mở rộng khắp địa cầu, sự cạnh tranh thành công của nó tất yếu cũng gây ra va chạm với các lợi ích kinh tế khác; và sự gắn kết ngày càng tăng với nền kinh tế thế giới trong tiến trình phát triển nhanh chóng đã làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu các sản phẩm từ đất đai nước ngoài. Nếu sự ngờ vực vốn lan rộng đối với đối thủ cạnh tranh biến thành thù địch công khai, thì từ sự phụ thuộc ấy sẽ nảy sinh những nguy cơ nghiêm trọng.
Nước Anh đã không phê chuẩn Tuyên bố London về luật chiến tranh trên biển năm 1909, và có thể giả định rằng trong một cuộc chiến tranh lớn, nước này sẽ tùy ý mở rộng khái niệm “hàng lậu chiến tranh” đối với mọi loại hàng hóa nhập vào các quốc gia thù địch, kể cả qua các cảng trung lập. Liên kết với Nga và Pháp, Anh có thể gần như hoàn toàn cắt đứt Đức khỏi các nguồn cung ứng từ bên ngoài. Khoảng một phần tư toàn bộ lương thực và nguyên liệu đến từ Nga, các quốc gia vùng sông Donau, nhưng trên hết là từ các nước hải ngoại.
Vì vậy, các cơ quan có trách nhiệm ở Đức buộc phải đặt ra câu hỏi: trong trường hợp chiến tranh, tình trạng bị phong tỏa có thể chịu đựng được bao lâu mà không gây tổn hại đến sức khỏe và sức mạnh quân sự của dân tộc Đức?
Dân chúng đã quen với một chế độ dinh dưỡng rất phong phú. Cùng với sự gia tăng dân số thành thị, thực phẩm có nguồn gốc động vật ngày càng thay thế thực phẩm thực vật; mức tiêu thụ thịt từ năm 1897 đến 1912 đã tăng từ 36 lên 52 kg tính theo đầu người. Đồng thời, đàn gia súc đã tăng cả về số lượng lẫn chất lượng đến mức lượng thịt nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 4 đến 6 phần trăm tổng mức tiêu thụ. Tuy nhiên, sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước không theo kịp sự mở rộng của sản xuất chăn nuôi; mỗi năm phải nhập khẩu, đặc biệt là lúa mạch Nga (1878: 54 kg; 1913: 93 kg tính theo đầu người), cùng với chất béo và thức ăn giàu đạm từ các vùng nhiệt đới, với tổng trị giá khoảng một tỷ mark vàng. Nếu các nguồn nhập khẩu này bị cắt đứt, thì trong trường hợp chiến tranh kéo dài, sự suy giảm mạnh nguồn cung thịt, chất béo và sữa là điều không thể tránh khỏi.
Tình hình thuận lợi hơn đối với sản xuất lương thực có nguồn gốc thực vật trong nước. Mặc dù mức tiêu thụ cũng tăng mạnh, đã có thể từng bước hạ lượng ngũ cốc làm bánh mì nhập khẩu xuống còn 10 phần trăm nhu cầu. Về khoai tây và đường củ cải, Đức sản xuất nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Nhưng ngay cả ở đây, việc phong tỏa đường bộ và đường biển cũng sẽ làm giảm sản lượng, bởi mức sản xuất cao đạt được ấy chỉ có thể nhờ vào lượng lớn thức ăn chăn nuôi nhập khẩu và tương tự là các loại phân bón chứa nitơ và phốt pho từ bên ngoài.
Theo tình hình thực tế, không có gì phải nghi ngờ rằng việc cung cấp lương thực cho dân tộc Đức, trong một thời gian, có thể được duy trì mà không gặp khó khăn bằng các sản phẩm của nền nông nghiệp trong nước, nhất là vì có thể trông đợi vào sự tồn tại của những nguồn dự trữ đáng kể về thực phẩm và hàng tiêu dùng từ nước ngoài. Ngay cả khi chiến tranh không thể kết thúc trước thời điểm các dự trữ này bị tiêu thụ hết, thì tình hình dinh dưỡng vẫn chưa đến mức nguy hiểm, với điều kiện duy trì được mức sản xuất nông nghiệp thời bình. Tuy nhiên, việc ngừng nhập khẩu từ nước ngoài khi đó đòi hỏi toàn thể dân cư phải từ bỏ một phần mức sống quen thuộc, điều có thể làm suy giảm cả thể chất lẫn tinh thần, cũng như năng lực lao động của từng cá nhân.
Để duy trì mức sản xuất nông nghiệp, điều có ý nghĩa quyết định là khi chiến tranh bùng nổ, việc trưng tập quân sự không được làm gián đoạn việc canh tác một cách trật tự do thiếu các lực lượng lao động có tay nghề và đã được đào tạo. Việc tiến hành thu hoạch sau khi vũ trang toàn quốc thì ít khó khăn hơn, vì khi cần thiết có thể huy động cả những lao động chưa qua đào tạo dưới sự chỉ đạo của những người có chuyên môn. Vì vậy, có cơ sở để hy vọng rằng, nếu việc gieo trồng mùa xuân được tiến hành với đội ngũ lao động đã quen việc, thì trong vòng một năm, tính từ lúc bắt đầu thu hoạch, dân tộc Đức có thể được nuôi dưỡng không dư dả nhưng đầy đủ, nhất là vì nền nông nghiệp Đức với đàn gia súc và đàn lợn đông đảo của mình sở hữu một nguồn dự trữ có giá trị.
Một năm chiến tranh tiếp theo sau vụ thu hoạch ấy đã là một nguy cơ lớn hơn. Phải tính đến việc thiếu hụt lao động, thiếu súc vật kéo, thiếu phân bón nhân tạo nhập khẩu, cũng như thiếu phân bón tự nhiên do đàn gia súc suy giảm, sẽ gây khó khăn cho việc canh tác và dẫn đến sự suy giảm sản lượng trong nước. Khi đó, một sự thiếu hụt thực sự về lương thực thiết yếu sẽ xuất hiện, điều tất nhiên sẽ ảnh hưởng một cách quyết định đến tình hình chiến tranh. Vì lợi ích của việc nuôi dưỡng toàn dân, do đó điều mong muốn là phải kết thúc chiến tranh càng nhanh càng tốt, nhưng muộn nhất cũng trước khi kết thúc năm thu hoạch đầu tiên.
Sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc dân Đức vào thị trường thế giới trong việc cung cấp nguyên liệu công nghiệp còn mạnh hơn và trước hết là trực tiếp hơn nhiều. Điều này đã thể hiện rõ ràng ngay từ những con số thuần túy: năm 1913, nhập khẩu nguyên liệu và bán thành phẩm — tuy có bao gồm cả những loại dùng cho nông nghiệp — tính theo giá trị đã chi trả, chiếm khoảng 56 phần trăm tổng kim ngạch nhập khẩu, trong khi nhập khẩu lương thực và hàng tiêu dùng chỉ chiếm 28 phần trăm. Việc cung cấp nguyên liệu nước ngoài cho công nghiệp Đức nằm ở trung tâm của mọi vấn đề kinh tế quốc dân, bởi vì việc cung ứng các hàng hóa thiết yếu cho dân cư phụ thuộc vào những nguyên liệu ấy. Khi các nguồn cung bị phong tỏa, vấn đề này càng trở nên quan trọng hơn, bởi vì trong việc sản xuất vật tư chiến tranh (quần áo, vũ khí, trang bị), nguyên liệu nước ngoài được cần đến với quy mô đáng kể.
Tuy nhiên, một lợi thế rất đáng giá đối với nền kinh tế quốc dân Đức trong trường hợp bị cắt đứt khỏi nước ngoài là sự giàu có về than đá (chiếm 55 phần trăm tổng trữ lượng than của châu Âu), một nguồn năng lượng không thể đánh bại và do đó là điều kiện quan trọng nhất cho mọi hoạt động công nghiệp hiện đại. Vì vậy, dù thiếu hoặc không đủ khả năng khai thác các nguồn năng lượng khác (dầu mỏ, thủy điện, khí tự nhiên), hoạt động công nghiệp sẽ không ngay lập tức bị suy giảm do thiếu nhiên liệu.
Tình hình tương tự, tuy không thuận lợi bằng, cũng tồn tại trong việc sản xuất sắt là những nguyên liệu công nghiệp quan trọng. Mặc dù Đức có những mỏ quặng sắt phong phú¹), chiếm khoảng 25 phần trăm tổng trữ lượng châu Âu, ngành công nghiệp sắt của Đức năm 1913 đã chế biến khoảng 50 phần trăm quặng nhập khẩu (so với 20 phần trăm vào khoảng đầu thế kỷ), bởi vì để cải thiện các loại quặng giàu phốt pho và tương đối nghèo sắt khai thác trong nước, cần phải có các loại quặng chất lượng cao, ít phốt pho, mà trong nước hầu như không có. Tương tự, ngành công nghiệp sắt và thép Đức trong việc cung ứng quặng mangan và các kim loại gọi là “kim loại làm cứng thép” hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu từ nước ngoài.
___
¹)Vùng quặng sắt quan trọng nhất là khu Minette ở Lorraine; sản lượng của nó chiếm khoảng 2/3 tổng sản lượng theo khối lượng, khoảng 2/3 theo hàm lượng sắt, và theo giá trị chiếm khoảng một nửa tổng sản lượng của Đức. Việc mất khu vực này — vốn là mục tiêu trong kế hoạch tác chiến của Pháp, dù không xuất phát từ các lý do kinh tế — sẽ có ý nghĩa mang tính quyết định đối với việc sản xuất sắt phục vụ chế tạo vật tư chiến tranh.
___
Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào kinh tế thế giới bộc lộ rõ rệt nhất trong các ngành công nghiệp kim loại khác. Ngoài chì và kẽm, tất cả các kim loại không phải sắt đều phải nhập khẩu phần lớn hoặc gần như hoàn toàn từ nước ngoài, chủ yếu từ hải ngoại. Đồng, một nguyên liệu cũng đặc biệt quan trọng đối với việc sản xuất vật tư chiến tranh, chỉ có thể được đáp ứng khoảng một phần mười bằng sản lượng trong nước, trong khi chín phần mười nhu cầu phải nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu từ Hoa Kỳ. Tương tự, nhu cầu về thiếc, niken và nhôm hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài.
Ngành công nghiệp gỗ của Đức, dù khai thác bền vững các khu rừng trong nước, vẫn phải dựa vào nhập khẩu từ nước ngoài khoảng một phần ba nhu cầu gỗ xây dựng.
Đức đặc biệt thiếu thốn về nguyên liệu dệt. Việc bảo đảm nguồn cung các nguyên liệu này, dưới điều kiện khí hậu Trung Âu, đối với sức khỏe nhân dân gần như quan trọng không kém gì lương thực và do đó là điều kiện không thể thiếu cho việc tiến hành chiến tranh. Len đáp ứng 95% nhu cầu tiêu dùng, còn bông (1840: 0,34 kg; 1912: 7,56 kg tính theo đầu người) hoàn toàn phải nhập khẩu bằng đường biển. Lượng bông nhập khẩu (năm 1913 khoảng 521.000 tấn) nếu tính theo tổng giá trị (khoảng 630 triệu Mark) thì đứng hàng đầu trong tất cả các mặt hàng nhập khẩu mà Đức cần. Lụa và các loại sợi gọi chung là sợi thực vật (lanh, gai, đay), vốn cũng có ý nghĩa lớn trong việc chế tạo trang bị chiến tranh, phần lớn đều phải nhập khẩu. Ngành công nghiệp da, quan trọng ngang nhau cho cả thời bình và thời chiến, phải đáp ứng nhu cầu về da sống và da thuộc khoảng hai phần ba từ nước ngoài; các chất thuộc da thì gần như hoàn toàn phải nhập khẩu.
Vấn đề nguyên liệu trong ngành công nghiệp hóa học còn phức tạp hơn, vì khái niệm thông thường về “nguyên liệu thô” không thể đơn giản áp dụng cho các nguyên liệu hóa học cơ bản, nhất là khi ở đây phần lớn là các sản phẩm nhân tạo. Đối với việc sản xuất một số hóa chất, không tồn tại sự phụ thuộc vào kinh tế thế giới về mặt cung ứng nguyên liệu; ngược lại, sự phụ thuộc ấy lại nảy sinh do đầu ra. Tuy nhiên, một số chất hóa học quan trọng – đặc biệt là những chất có ý nghĩa đối với việc sản xuất đạn dược (chế tạo thuốc súng) – chỉ có thể được tạo ra thông qua việc chế biến nguyên liệu nhập khẩu. Vì vậy, ngành công nghiệp hóa chất quy mô lớn phụ thuộc đáng kể vào nhập khẩu axit sulfuric và axit nitric; đối với sản xuất axit sulfuric thì ngoài lưu huỳnh từ Sicilia còn phụ thuộc vào quặng pyrit lưu huỳnh từ Tây Ban Nha; còn đối với sản xuất axit nitric thì phụ thuộc vào diêm tiêu Chile. Ngoài ra, một số nguyên liệu hóa học khác như nhựa, sản phẩm chưng cất gỗ, kali, cũng như nhiều hóa chất cần thiết cho mục đích vệ sinh và y tế, ít nhiều đều phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Cuối cùng, ngành công nghiệp Đức còn hoàn toàn phụ thuộc vào việc nhập khẩu cao su – nguyên liệu dùng để sản xuất các sản phẩm cao su vốn đã được sử dụng với khối lượng tăng nhanh trong những năm trước chiến tranh – từ các vùng sản xuất nhiệt đới.
Một phần lớn trong số các nguyên liệu thiết yếu này và nhiều nguyên liệu khác được tái xuất khẩu dưới dạng đã qua chế biến. Tuy nhiên, phần lớn nguyên liệu nhập khẩu được tiêu thụ ngay trong nước. Bất kỳ sự gián đoạn hoặc thậm chí ngừng hẳn nguồn cung nào cũng sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với toàn bộ quá trình kinh tế và sẽ đặc biệt ảnh hưởng quyết định đến việc sản xuất vật liệu chiến tranh.
Dĩ nhiên, một nền công nghiệp chế tạo phát triển cao như của Đức để duy trì hoạt động của mình luôn có một lượng dự trữ nguyên liệu nhất định, cho phép tiếp tục sản xuất trong một thời gian giới hạn nếu nguồn cung bị gián đoạn. Nhưng tình trạng ngoại lệ ấy chỉ có thể chịu đựng được nếu sự gián đoạn của nguồn cung thường xuyên không xảy ra đúng vào những tháng cuối hè và mùa thu. Bởi vào thời điểm đó, trong lúc chờ đợi các lô hàng nhập khẩu mới, các kho dự trữ thường đã bị tiêu hao đáng kể. Ngay cả trong trường hợp thuận lợi nhất, các kho dự trữ cũng khó có thể duy trì hoạt động của các ngành công nghiệp thiết yếu cho đời sống và chiến tranh quá một năm tròn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét