Tra lại tư liệu : Nỗ lực giải quyết tranh cãi về Kế hoạch Schlieffen
Terence M Holmes
Đại học Swansea, Vương quốc Anh
---
Tóm tắt
Niềm tin phổ biến rằng Kế hoạch Schlieffen là nền tảng cho chiến lược của Đức năm 1914 bắt nguồn từ việc diễn giải sai lịch sử rằng kế hoạch đó là một bản thiết kế cho việc tiến hành một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận. Bản ghi nhớ nổi tiếng tháng 12 năm 1905 của Schlieffen, thường được gọi là Kế hoạch Schlieffen, đề xuất một cuộc tấn công quy mô lớn bằng cánh phải vào Pháp nhưng chỉ trong trường hợp chiến tranh một mặt trận. Nguyên tắc cơ bản của ông để tiến hành một cuộc chiến tranh hai mặt trận, được nêu rõ trong một tài liệu khác cũng vào tháng 12 năm 1905, là phản công nhanh chóng liên tiếp trên cả hai mặt trận. Quyết định của Moltke cháu về một cuộc tấn công quy mô lớn bằng cánh phải vào Pháp năm 1914 đánh dấu sự đoạn tuyệt với tư duy chiến lược của Schlieffen, chứ không phải là sự tiếp nối nó. Chiến tranh Thế giới thứ nhất lẽ ra đã bắt đầu rất khác – với một trận đánh lớn ở Lorraine, chứ không phải trên sông Marne – nếu người Đức hành động phù hợp với ý định thực sự của Schlieffen cho một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận.
Từ khóa
Kế hoạch Schlieffen, Alfred von Schlieffen, Chiến tranh Thế giới thứ nhất, Trận sông Marne, Chiến lược Đức, Kế hoạch chiến tranh của Đức
Nội dung
Tất cả các cuộc tranh luận nhân kỷ niệm một trăm năm Chiến tranh Thế giới thứ nhất giờ đây đã trở thành lịch sử, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả chúng đã được giải quyết một cách thỏa đáng. Một vấn đề vẫn còn gây tranh cãi dai dẳng là câu hỏi về mối quan hệ giữa cái gọi là Kế hoạch Schlieffen năm 1905 với việc xây dựng và thất bại của chiến lược Đức năm 1914. Holger Herwig đã kêu gọi "tra lại tư liệu" để làm sáng tỏ những nghi ngờ và bất đồng vẫn còn bao quanh Kế hoạch Schlieffen, nhưng ông không có ý nói rằng tất cả chúng ta phải lục lọi trong các kho lưu trữ để tìm kiếm bằng chứng mới. Thay vào đó, ông muốn nói rằng việc xuất bản bản dịch tiếng Anh chính thức các kế hoạch triển khai quân của Đức từ năm 1893 đến 1914 giờ đây cho phép một lượng lớn độc giả không chuyên có được hiểu biết đáng tin cậy và dứt khoát về toàn bộ vấn đề này. Dựa phần lớn vào bộ kế hoạch triển khai quân đó và các tài liệu đã xuất bản dễ tiếp cận khác, tôi sẽ theo lời khuyên tuyệt vời của Herwig trong nỗ lực của mình để chỉ ra rằng quan điểm phổ biến về Kế hoạch Schlieffen như là yếu tố chủ yếu quyết định chiến lược của Đức năm 1914 dựa trên một số cách xử lý nguồn tài liệu liên quan rất đáng ngờ, trong khi sự chú ý đúng mức đến những hồ sơ đó cho chúng ta một góc nhìn hoàn toàn khác về Schlieffen và kế hoạch chiến tranh nổi tiếng của ông.
Là Tham mưu trưởng của quân đội Phổ từ năm 1891 đến 1905, Bá tước Alfred von Schlieffen chịu trách nhiệm soạn thảo các kế hoạch triển khai quân của Đức được cập nhật vào ngày 1 tháng 4 hàng năm. Trong nhiệm kỳ của mình, ông cũng đã viết rất nhiều nghiên cứu và nhận xét bài tập liên quan đến các vấn đề chiến lược và kế hoạch chiến tranh của Đức. Nhưng trong khối lượng công việc đồ sộ và đa dạng này, một ý tưởng chiến lược cụ thể đã được biết đến với tên gọi Kế hoạch Schlieffen, và đó là khái niệm về một cuộc tấn công quyết định vào Pháp với một cánh phải rất mạnh tiến qua Bỉ, như được trình bày trong một *Denkschrift* hay bản ghi nhớ có ngày tháng 12 năm 1905, mà Schlieffen hoàn thành ngay sau khi nghỉ hưu khỏi vị trí tham mưu trưởng. Ngay cả trước khi toàn văn bản ghi nhớ Kế hoạch Schlieffen lần đầu tiên được công bố vào năm 1956, Peter Rassow đã xác định từ một trang bản thảo chụp lại rằng đề xuất tấn công toàn lực vào Pháp này liên quan đến 'không phải một cuộc chiến tranh hai mặt trận, mà *chỉ* là một cuộc chiến tranh ở mặt trận phía tây'. Ông tiếp tục buộc tội giới quân sự Đức những năm 1920 đã dựng lên một huyền thoại mô tả Kế hoạch Schlieffen một mặt trận tháng 12 năm 1905 như một bản thiết kế cho chiến lược của Đức trong cuộc chiến tranh hai mặt trận năm 1914. Ông nói rằng các sử gia sĩ quan đã khoác lên 'phương pháp luận thuế' của họ một 'tác phong có thẩm quyền' để tạo cho luận điểm giả tạo đó một vẻ hợp lý.
Lời phản đối có cơ sở của Rassow đã hoàn toàn vô ích. Gần 70 năm sau, huyền thoại mà ông muốn phá bỏ vẫn còn sống và phát triển mạnh mẽ, sinh sôi vô tận trên Internet và được một trường phái sử gia hiện đại kiên trì duy trì, những người vẫn tin rằng Kế hoạch Schlieffen là nền tảng cho chiến lược của Đức năm 1914. Quan điểm đó đã được định hình từ năm 1925, trong tập một của bộ lịch sử chính thức về Đại chiến của Đức. Các sử gia của Cục Lưu trữ Đế chế (Reichsarchiv) lập luận rằng trong trường hợp xảy ra chiến tranh trên hai mặt trận, Schlieffen dự định bắt đầu bằng một cuộc tấn công nhanh chóng và quyết định ở mặt trận phía tây rồi sau đó chuyển quân sang mặt trận phía đông. Bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 là kết quả của những cân nhắc kỹ lưỡng của ông về chiến lược này và đại diện cho 'di sản quân sự' mà ông để lại cho người kế nhiệm của mình, Helmuth von Moltke cháu. Ngay sau đó, Wilhelm Groener đã viết hai cuốn sách ca ngợi Kế hoạch Schlieffen như một bản thiết kế cho chiến thắng trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận và chỉ trích Moltke vì đã không thực hiện đúng kế hoạch này vào năm 1914.
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Gerhard Ritter đã có một quan điểm rất khác về giá trị của kế hoạch, tuyên bố rằng nó "chưa bao giờ là một công thức hợp lý cho chiến thắng", nhưng ông đồng ý rằng nó đại diện cho "ý tưởng cơ bản" của Schlieffen để tiến hành một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận. B. H. Liddell Hart đã viết lời tựa cho bản tiếng Anh của cuốn sách của Ritter, khẳng định rằng "vấn đề cơ bản mà kế hoạch phải đối mặt là vấn đề của một cuộc chiến tranh hai mặt trận", và đồng tình với Ritter rằng nó có "rất ít cơ hội thành công quyết định". Đó vẫn là sự đồng thuận ổn định về Kế hoạch Schlieffen cho đến tận năm 1999, khi Terence Zuber đưa ra tuyên bố cực đoan rằng "chưa bao giờ có một 'Kế hoạch Schlieffen'", lập luận rằng bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 không thực sự là một kế hoạch chiến tranh, mà chỉ là một lời kêu gọi ngụ ý để mở rộng chế độ nghĩa vụ quân sự toàn quốc .
Tôi sẽ tranh luận với luận điểm cực đoan của Zuber sau, nhưng trước tiên tôi muốn trình bày lập luận của riêng mình chống lại cách diễn giải chính thống bằng cách xem xét một số lập lại khá gần đây của nó, bắt đầu với chuyên khảo năm 2009 của Holger Herwig về trận sông Marne. Lời giới thiệu trên bìa sách tuyên bố rằng Herwig 'tái diễn giải một cách xuất sắc' Kế hoạch Schlieffen, nhưng sự thật là ông đã sửa đổi đáng kể Kế hoạch Schlieffen để phù hợp với một khái niệm định kiến trước về bản chất của nó. Ông bắt đầu bằng cách khẳng định rằng vào tháng 12 năm 1905, 'Schlieffen đã ghi lại những suy nghĩ cuối cùng của mình về một cuộc chiến tranh tương lai với Pháp và Nga vào bản ghi nhớ nổi tiếng mang tên ông'. Nhưng bản ghi nhớ nổi tiếng đó có tiêu đề là 'Chiến tranh chống Pháp', không phải 'Chiến tranh chống Pháp và Nga'. Kế hoạch được trình bày ở đó giả định một tình huống trong đó Pháp 'không thể trông cậy vào sự hỗ trợ hiệu quả của Nga', và đó là lần duy nhất Nga được nhắc đến trong toàn bộ tài liệu. Nga đơn giản không phải là một yếu tố trong tài liệu này, và do đó, nó không thể được coi là áp dụng cho một 'cuộc chiến chống Pháp và Nga'. Herwig bắt đầu với một quan niệm sai lầm về bản *Denkschrift* tháng 12 năm 1905 và sau đó đưa ra một bản mô tả chi tiết phản ánh và mở rộng sự hiểu lầm đó.
Bản chất trong trình bày của Herwig là Schlieffen dự định tiêu diệt quân đội Pháp bằng một cuộc tấn công nhanh chóng và mạnh mẽ bằng cánh phải, và sau đó điều quân đội chiến thắng của mình đến mặt trận phía đông kịp thời để đối phó với quân đội Nga. Ở mặt trận phía tây, các tập đoàn quân Đức chủ lực sẽ xâm nhập Pháp qua Bỉ, trong khi một lực lượng nhỏ hơn sẽ 'neo chặt mặt trận trên Thượng lưu sông Rhine'. Herwig nói rằng lực lượng nhỏ hơn này bao gồm năm quân đoàn Đức cộng với Tập đoàn quân 3 Ý với ba quân đoàn. Ông chỉ rõ rằng năm quân đoàn Đức đó tạo thành 'khoảng 15 phần trăm lực lượng Đức', từ đó chúng ta có thể suy ra rằng tổng sức mạnh của Đức là khoảng 33 quân đoàn và cuộc tấn công qua Bỉ gồm có khoảng 28 quân đoàn. Vậy là, theo tính toán của Herwig, có khoảng 28 quân đoàn ở cánh phải và 8 (năm của Đức và ba của Ý) ở cánh trái, có nghĩa là tỷ lệ lực lượng giữa cánh phải và cánh trái là khoảng 3,5:1. Nhưng Herwig hẳn đã đọc ở đâu đó rằng tỷ lệ lực lượng cánh phải - cánh trái trong Kế hoạch Schlieffen là 7:1, và ông chấp nhận quan điểm đó mặc dù nó hoàn toàn không tương thích với chính phác thảo lực lượng của Schlieffen mà ông đưa ra.
Phác thảo đó trong bất kỳ trường hợp nào cũng khá sai lệch. Trong bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 của mình, Schlieffen không hề đề cập đến một đơn vị quân Ý nào, nhưng ông triển khai 40,5 quân đoàn Đức chống lại Pháp ngay từ đầu chiến dịch, chứ không phải 33 như Herwig đưa ra . Vậy thì bảy quân đoàn rưỡi của Đức đã biến đi đâu trong phiên bản của Herwig? Bí ẩn được làm sáng tỏ khi ông cho chúng ta biết rằng một tập đoàn quân Đức sẽ được để lại ở phía đông để 'ngăn chặn người Nga' trong khi cuộc tấn công vào Pháp được tiến hành. Người Nga nào? Không có người Nga nào trong bản *Denkschrift* Kế hoạch Schlieffen ngoại trừ những người mà Schlieffen nói sẽ không đóng vai trò hiệu quả trong chiến tranh – và một mối đe dọa không hề tồn tại chắc chắn sẽ không đòi hỏi phải có lực lượng đối trọng gồm bảy quân đoàn rưỡi của Đức. Trong Kế hoạch Schlieffen thực sự, không có quân Đức nào được triển khai chống lại Nga: tất cả 40,5 quân đoàn của Lục quân Đức được tập hợp ở phía tây cho cuộc tấn công qua Bỉ và trận chiến tiêu diệt tiếp theo.
Tóm tắt của Herwig về trận chiến quyết định đó cũng sai lệch. Ông giả định rằng 'phần lớn các tập đoàn quân Đức' được dự định tiếp tục tiến quân 'vào lưu vực sông Seine phía tây nam Pháo đài Paris, nơi họ sẽ tiêu diệt các tập đoàn quân chủ lực của Pháp'. Nhưng trong bản ghi nhớ Kế hoạch Schlieffen, không phải 'phần lớn các tập đoàn quân Đức' tấn công xung quanh phía tây Paris. Thao tác đó được thực hiện bởi một tập đoàn quân duy nhất bao gồm bảy quân đoàn, lẽ ra đã bị tiêu diệt nếu họ đụng phải 'các tập đoàn quân chủ lực của Pháp' ngay phía tây nam thủ đô. Trên thực tế, cuộc tiến quân quanh Paris nhằm vào các khu vực hậu phương không được phòng thủ của đối phương: nó được thiết kế để cắt đứt tuyến rút lui của kẻ thù trong khi một lực lượng Đức lớn hơn nhiều, bao gồm 18 quân đoàn và 2,5 quân đoàn dự bị, ghim chặt các tập đoàn quân chủ lực của Pháp dọc theo mặt trận giữa Paris và Verdun. Mục tiêu cuối cùng là đẩy các tập đoàn quân Pháp bị bao vây 'về phía đông chống lại các pháo đài Moselle của họ, về phía dãy Jura và Thụy Sĩ' và tiêu diệt họ ở đó. Người Pháp sẽ bị nghiền nát trên biên giới phía đông của họ, cách lưu vực sông Seine 400 km.
Herwig biết rằng Schlieffen muốn mở rộng Lục quân Đức trong cuộc tấn công quyết định vào Pháp, nhưng ông không báo cáo những gì bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 nói về ý định này, thay vào đó thích kể theo cách riêng của mình. Ông nói rằng 'sáu sư đoàn Ersatz' sẽ theo sau cuộc tấn công ban đầu 'để dọn dẹp hoặc vây hãm các pháo đài của Bỉ và Pháp'. Trong Kế hoạch Schlieffen thực sự, sáu quân đoàn Ersatz (không phải sư đoàn) có vai trò cụ thể là che chắn sườn trái cho bảy quân đoàn được giao nhiệm vụ hành quân vòng qua phía tây Paris. Herwig có đề cập đến bảy quân đoàn đó, nhưng ông nói họ được giao nhiệm vụ 'đầu tiên là bao vây và sau đó là công phá Pháo đài Paris'. Trên thực tế, Kế hoạch Schlieffen không kêu gọi bao vây hoặc oanh tạc Paris. Sức mạnh của pháo đài lớn đó sẽ bị vô hiệu hóa bằng cách phong tỏa và cơ động vòng quanh nó.
Mặc dù kêu gọi 'tra lại tư liệu', Herwig không chú ý lắm đến các chi tiết xác thực của kế hoạch mà ông được cho là đang mô tả, dường như bận tâm với việc chuyển đổi nó thành một thiết kế cho việc tiến hành một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Ông tiếp tục làm việc theo hướng tương tự khi tuyên bố rằng 'chiến dịch chống Pháp sẽ kết thúc trong bốn mươi ngày, sau đó các tập đoàn quân sẽ đua nhau băng qua nước Đức để đối phó với các tập đoàn quân Nga đang được điều động một cách chậm chạp'. Thời hạn 40 ngày cho chiến thắng ở phía tây rõ ràng được liên kết với giả định rằng 'người Nga sẽ mất ít nhất bốn mươi ngày để điều quân'. Herwig giải thích ý định của Schlieffen dựa trên hai mốc thời gian song song này. Người Đức ở phía tây phải tiêu diệt quân đội Pháp trong khoảng thời gian đếm ngược tối thiểu cho việc điều động của Nga để người Đức ở phía đông chỉ phải 'ngăn chặn người Nga' trong thời gian đủ để các đồng đội chiến thắng của họ 'đua nhau băng qua nước Đức' đến giải cứu. Nhưng không có thời gian biểu 40 ngày để hoàn thành chiến dịch chống Pháp như được trình bày trong Kế hoạch Schlieffen. Chúng ta cũng không tìm thấy ở đó bất kỳ ước tính nào về thời gian người Nga cần để điều động, vì việc điều động của Nga không xảy ra trong kế hoạch đó. Herwig không đưa ra bằng chứng nào cho cả hai lịch trình 40 ngày của mình, nhưng có bằng chứng từ các cuộc huấn luyện tham mưu chiến trường (một dạng cờ đánh trận ngoài thực địa) của Schlieffen mâu thuẫn với cả hai.
Trong Generalstabstreite Ost (Huấn luyện tham mưu chiến trường phía Đông) năm 1899, lực lượng chủ lực của Nga đã được triển khai trên sông Vistula ở Ba Lan vào ngày thứ 26 kể từ lệnh tổng động viên và các đơn vị quân Nga đầu tiên đã đặt chân lên đất Đức, vào ngày thứ 27, thuộc tập đoàn quân Niemen. Trong cuộc huấn luyện tương tự vào năm 1901, các đơn vị Nga đầu tiên xâm lược Đông Phổ vào ngày thứ 24 Trong ván cờ đánh trận mô phỏng tình huống chiến tranh hai mặt trận tổ chức vào tháng 11-12 năm 1905, quân Nga đã vượt biên giới vào ngày thứ 28, điều mà Schlieffen cho là một giả định khá lạc quan từ quan điểm của Đức. Ông nói rằng người Đức cần mở rộng pháo đài Königsberg khi chiến tranh bùng nổ bằng cách xây dựng các công trình dã chiến rộng khắp, điều này có thể hoàn thành 'nếu, như trong trường hợp này, chúng ta được cho bốn tuần'. Hàm ý của nhận xét này là trong một cuộc chiến tranh thực sự, người Đức có thể có thậm chí ít hơn 28 ngày ân hạn trước khi người Nga bắt đầu tiến quân. Schlieffen chắc chắn muốn nghe rằng họ cần 'ít nhất bốn mươi ngày để điều động', nhưng đó không phải là điều ông mong đợi.
Thời gian biểu 40 ngày cho một chiến thắng tấn công ở phía tây cũng là một suy đoán từ phía Herwig. Ông không đưa ra bằng chứng nào chứng minh Schlieffen tự đặt ra thời hạn đó cho mình, nhưng ông lại vô tình vấp phải bằng chứng ngược lại. Khi đề cập đến Generalstabsreise West vào năm 1905 của Schlieffen, Herwig nói rằng cuộc huấn luyện này được gọi là Freytag II (dựa trên kịch bản chiến tranh một mặt trận) là ' rất thú vị cho mục đích của chúng ta'. Trong cuộc huấn luyện đó, phía Đức đã cắt đứt đường rút lui của các tập đoàn quân Pháp khỏi Paris, sau đó đẩy họ về phía đông nam và 'cuối cùng đánh tan họ dọc theo biên giới Thụy Sĩ vào ngày thứ 56 kể từ lệnh tổng động viên . Vì vậy, kết quả của Freytag II gợi ý rằng người Đức có thể cần tới 56 ngày để tiêu diệt quân đội Pháp bằng một cuộc tấn công quy mô lớn của cánh phải – và đó là trong một tình huống kẻ thù không thiết lập được một mặt trận phòng thủ dựa vào Paris. Nếu người Pháp thành công trong việc chiếm giữ tuyến đó, như được giả định trong Kế hoạch Schlieffen, thì cánh phải của Đức sẽ phải được mở rộng vòng quanh thủ đô. Trong trường hợp đó, chúng ta có thể giả định rằng toàn bộ chiến dịch có thể mất nhiều thời gian hơn 56 ngày. Nếu Freytag II chứng minh điều gì, thì đó là Schlieffen không chắc chắn về việc loại bỏ sức kháng cự của Pháp trong một cuộc tấn công kéo dài 40 ngày. Thay vào đó, dường như điều này có thể mất hơn 8 tuần, trong khi trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận, các tập đoàn quân Nga có thể tràn qua biên giới phía đông nước Đức trong vòng chưa đầy 4 tuần. Khoảng thời gian nguy hiểm đó là một lý do chính đáng tại sao Schlieffen không bao giờ đề xuất một cuộc tấn công toàn lực vào Pháp như là giai đoạn đầu tiên trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Ông chỉ đề nghị một cuộc tấn công như vậy trong trường hợp 'Chiến tranh chống Pháp'.
Tại thời điểm này, có thể hữu ích khi xem xét kỹ lưỡng một ví dụ chân thực về tư duy của Schlieffen về việc tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại cả Pháp và Nga. Ông đã nêu ra các nguyên tắc cơ bản trong phần thảo luận về Generalstabsreise Ost năm 1901:
"Nước Đức trước tiên phải cố gắng đánh bại một kẻ thù trong khi chỉ khiến kẻ thù kia bị trói tay; nhưng sau đó, khi kẻ thù đầu tiên đã bị đánh bại, người Đức phải sử dụng đường sắt để đạt được kết quả tương tự ở chiến trường còn lại – nhằm chúnh được ưu thế về số lượng ở đó như đã được chứng minh là chí mạng đối với kẻ thù còn lại."
Schlieffen đang nhắc lại những gì đã thực sự xảy ra trong Generalstabsreise West và Generalstabsreise Ost năm 1901, hai cuộc huấn luyện này cùng nhau tạo thành một cuộc diễn tập hoàn chỉnh cho khái niệm chiến lược về một cuộc chiến tranh hai mặt trận của ông. Trong cuộc huấn luyện đầu tiên, người Đức tập trung phần lớn quân đội của họ ở phía tây nhưng để đối phương nắm thế chủ động. Chủ lực của quân đội Pháp sẽ tiến qua Bỉ vào Đức, và chỉ sau đó người Đức mới phản ứng bằng một cuộc phản công áp đảo trên bờ trái sông Rhine gần biên giới Bỉ. Schlieffen nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp phản công này: ông nói, người Đức 'phải đợi người Pháp xuất hiện từ sau các chiến lũy phòng thủ của họ... Đó là phương pháp được áp dụng ở đây, và người Đức đã chúnh được một chiến thắng quyết định.' Chiến thắng của họ đã đạt được vào ngày thứ 23 kể từ lệnh tổng động viên, ngay sau đó chín quân đoàn lập tức được điều động dọc theo 'mọi tuyến đường sắt có sẵn' đến mặt trận phía đông, đến đó vào ngày thứ 33.
Trong Generalstabsreise Ost, quân Nga xâm lược Đông Phổ từ sông Niemen vào ngày thứ 24 và từ sông Narew vào ngày thứ 29. Lực lượng Đức, bị áp đảo hai chọi một, đã thực hiện một cuộc rút lui có kế hoạch, một phần rút vào Königsberg trong khi phần còn lại rút lui về phía sông Vistula. Cuộc giao tranh đầu tiên xảy ra vào ngày thứ 35, tức là hai ngày sau khi chín quân đoàn từ phía tây đến. Những lực lượng tăng viện đó đã cho người Đức tổng cộng 17 quân đoàn, nhiều hơn đối thủ một quân đoàn, và ưu thế về chất lượng với 15 quân đoàn chủ lực tuyến một so với 12 quân đoàn chủ lực của phía Nga.
Đối với Schlieffen, đây là một nghiên cứu tình huống điển hình về cách quản lý một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Nó không bắt đầu bằng một cuộc xâm lược lớn vào miền bắc nước Pháp: ngược lại, người Pháp được phép tấn công trước và đó được coi là chìa khóa cho một chiến thắng nhanh chóng và quyết định ở phía tây. Nó không liên quan đến một cuộc đấu tranh khốc liệt để 'ngăn chặn người Nga': vấn đề là để họ tiến lên mà không gặp phải sự kháng cự nhằm tranh thủ thời gian và bảo toàn lực lượng cho đến khi quân tiếp viện của Đức đến từ phía tây. Cuộc chiến đấu thực sự ở phía đông chỉ bắt đầu khi người Đức đã được tăng cường đến mức sức mạnh cần thiết cho một cuộc phản công. Trong sự kiện này , đòn phản công ở phía đông 'đã không diễn ra theo kế hoạch', nhưng Schlieffen nói rằng nó lẽ ra đã thành công và thất bại là do những sai lầm có thể xác định trong việc tiến hành các hoạt động của Đức. Ông vẫn tự tin rằng loại chiến lược được thực hành trong hai cuộc Generalstabsreisen này mang lại cơ hội tốt nhất để chúnh chiến thắng hoàn toàn ở cả phía đông lẫn phía tây.
Herwig không dành thời gian cho các ý tưởng phản công của Schlieffen: theo như ông quan tâm, cuộc tấn công toàn lực trong bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 mới là hiện thân giải pháp của Schlieffen cho tình thế tiến thoái lưỡng nan khi phải chiến đấu một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận. Nhưng chúng ta đã thấy rằng những gì Herwig định nghĩa là Kế hoạch Schlieffen không phải là mô tả về kế hoạch mà Schlieffen thực sự viết ra trong bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 của ông. Nó cũng không phải là mô tả về bất cứ điều gì khác mà Schlieffen từng ghi chép. Cuộc tấn công cánh phải qua Bỉ thực sự là ý tưởng trung tâm của bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 'Chiến tranh chống Pháp', nhưng Herwig tách nó ra khỏi bối cảnh đó và kết hợp lại với nhiều yếu tố ngoại lai để biến nó thành trung tâm của một 'cuộc chiến tranh với Pháp và Nga'. Kết quả cuối cùng của thủ tục này là một cấu trúc nhân tạo không có giá trị lịch sử nào cả.
Năm 2010, một năm sau khi xuất bản chuyên khảo về trận Marne, Herwig đồng biên tập một tập tiểu luận về kế hoạch chiến tranh cho năm 1914, trong đó Annika Mombauer đóng góp một chương về kế hoạch chiến tranh của Đức. Quan điểm của bà về Kế hoạch Schlieffen phần lớn giống với Herwig, với tất cả các đặc điểm nổi bật được sao chép gần như nguyên văn: Tập đoàn quân 3 Ý xuất hiện trên thượng lưu sông Rhine; các quân đoàn cánh trái của Đức chiếm 'khoảng 15 phần trăm lực lượng Đức'; có một tập đoàn quân duy nhất đang 'ngăn chặn người Nga' trong khi các tập đoàn quân chủ lực của Đức tiến qua Bỉ tìm kiếm một trận đánh quyết định ở 'lưu vực sông Seine phía tây nam Paris'; cuối cùng, người Đức phải tiêu diệt quân đội Pháp và khiến Paris thất thủ 'vào ngày thứ 39 hoặc 40' để sau đó quân tiếp viện có thể được điều gấp đến mặt trận phía đông. Sự trùng hợp chặt chẽ trong phát hiện của họ có thể gợi ý rằng Herwig và Mombauer đã tìm thấy một tài liệu chưa từng được biết đến trong đó Schlieffen trình bày chính xác kế hoạch mà họ cùng nhau phác thảo. Nhưng họ không cung cấp bất kỳ bằng chứng nào như vậy. Bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 của Schlieffen đã dự kiến một cuộc tấn công lớn qua Bỉ để bao vây và tiêu diệt quân đội Pháp, nhưng nó được thiết kế đặc biệt cho một cuộc chiến tranh một mặt trận. Schlieffen đã không lên kế hoạch, đề xuất, thử nghiệm, hay thậm chí xem xét một cuộc tấn công như vậy trong trường hợp chiến tranh hai mặt trận, đó là lý do tại sao cả Herwig và Mombauer đều không thể xác định được một nguồn tài liệu riêng biệt cho kế hoạch mà họ đại diện như là Kế hoạch Schlieffen. Mombauer cho rằng điều đặc biệt trong việc lập kế hoạch chiến tranh của Đức là 'các sử gia dường như quan tâm đến Kế hoạch Schlieffen, đến từng chi tiết nhỏ nhất của nó, theo một cách mà chưa từng được thể hiện đối với các kế hoạch của các cường quốc châu Âu khác'. Nhưng điều khiến tôi thực sự đáng chú ý về đối tượng nghiên cứu cụ thể này là một số sử gia dường như hài lòng với một bản mô tả về Kế hoạch Schlieffen mà họ không thể tìm thấy cơ sở tài liệu nào.
Trớ trêu thay, chú thích duy nhất của Schlieffen mà Mombauer cung cấp trong bối cảnh này lại đề cập đến phần thảo luận của ông về ván cờ đánh trận vào tháng 11–12 năm 1905 của Đại Tham mưu , có ngày 23 tháng 12 năm 1905, trong đó ông nêu rõ ý định thực sự của mình trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận – đó là áp dụng một chiến lược phản công trên cả hai mặt trận. Mombauer bỏ qua phần thiết yếu đó của bản nhận xét cuộc tập trận và thay vào đó tập trung vào một đoạn văn nơi 'Schlieffen phác thảo cách một đội quân nhỏ hơn có thể đánh bại một đội quân lớn hơn' bằng cách tấn công vào sườn và hậu phương của nó. Mombauer trình bày lời khuyên này như thể nó là cơ sở lý luận cho những gì bà hiểu là Kế hoạch Schlieffen, khiến nó có vẻ như Schlieffen đã chọn một cuộc tấn công bọc sườn lớn vào Pháp để bù đắp cho sự thiếu hụt về số lượng của Đức trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận.
Nhưng nhận xét mà bà trích dẫn từ bản nhận xét cuộc tập trận không đề cập đến một cuộc tấn công của Đức qua Bỉ, nó đề cập đến phản ứng của Đức đối với một cuộc tấn công của Pháp qua Bỉ. Trong ván cờ này, quân Đức ở phía tây bị áp đảo nặng nề về số lượng nhưng đã xoay chuyển tình thế với đối thủ bằng một loạt các cuộc phản công nhắm vào sườn và hậu phương của họ. Schlieffen đã chấp thuận cách phía Đức chống lại cuộc tấn công của địch theo cách tạo ra một số trận đánh tương tự như trận Leuthen năm 1757, khi quân Phổ bất ngờ tấn công sườn trái của một đội quân Áo lớn hơn nhiều, buộc nó phải chuyển hướng vội vàng và bị dồn nén thành một khối hỗn loạn.Người Đức trong ván cờ năm 1905 đã vô hiệu hóa ưu thế số lượng của quân đội Pháp bằng cách tham gia vào các trận chiến liên tiếp theo khuôn mẫu của ví dụ lịch sử vĩ đại đó.
Khi áp dụng tất cả điều này cho Kế hoạch Schlieffen, Mombauer đang nhầm lẫn giữa các nguyên tắc chiến thuật của Schlieffen với ý tưởng chiến lược của ông. Rõ ràng ông nghĩ rằng thành công trong trận chiến có thể đạt được một cách tiết kiệm bằng cách tấn công sườn và hậu phương của kẻ thù, nhưng ông thấy mình đồng ý với Clausewitz khi ông nhận xét rằng bất kỳ cuộc tấn công chiến lược nào 'cũng đòi hỏi nhiều sức mạnh và cũng tiêu hao nhiều, rằng sức mạnh này suy giảm liên tục trong khi sức mạnh của người phòng thủ tăng lên'. Một cuộc tấn công quyết định vào Pháp qua Bỉ sẽ đòi hỏi một sự đầu tư lực lượng khổng lồ: một phần quan trọng của Kế hoạch Schlieffen quy định sức mạnh phi thường mà kế hoạch này sẽ yêu cầu - không chỉ toàn bộ Lục quân Đức mà còn thêm tám quân đoàn Ersatz nữa. Đây chắc chắn không phải là một nhiệm vụ phù hợp cho 'một đội quân nhỏ hơn'.
Những gì Herwig và Mombauer gọi là Kế hoạch Schlieffen thực chất là ý tưởng của họ về việc Kế hoạch Schlieffen sẽ trông như thế nào nếu nó được dự định thực hiện trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận, điều mà nó không phải. Dựa trên sản phẩm nhân tạo này, họ kết luận rằng Moltke cháu đã hành động về cơ bản phù hợp với kế hoạch của Schlieffen khi tung phần lớn lực lượng của mình vào một cuộc tấn công vòng qua Bỉ vào năm 1914. Mombauer tuyên bố rằng 'tiền đề cơ bản của tư duy chiến lược Schlieffen đã trở thành bản thiết kế cho người kế nhiệm của ông'. Bất chấp những thay đổi ông ta thực hiện đối với Kế hoạch Schlieffen, Moltke vẫn bám vào ý tưởng cốt lõi của nó, đó là sử dụng 'cánh phải nổi tiếng - thậm chí huyền thoại' để tấn công nước Pháp qua Bỉ. Nếu toàn bộ kế hoạch là sáng kiến của Schlieffen, thì Schlieffen phải chịu trách nhiệm về kết quả. Mombauer khẳng định rằng chính 'Kế hoạch Schlieffen' đã 'thất bại trong việc mang lại chiến thắng'. Herwig ủng hộ quan điểm của bà rằng cuộc tấn công năm 1914 là 'một Kế hoạch Schlieffen được sửa đổi với các mục tiêu tương tự', và tóm tắt thất bại của Moltke trong trận sông Marne với lời tuyên án rằng 'canh bạc lớn của Schlieffen đã thất bại'.Tuy nhiên, đó là một sự quy kết trách nhiệm thô bạo. Người ta có thể lập luận rằng chiến lược của Đức năm 1914 đại diện cho một 'canh bạc lớn', nhưng cũng hoàn toàn rõ ràng rằng chính bản thân Schlieffen chưa bao giờ đặt cược vào nó.
Herwig và Mombauer đều thừa nhận sự biết ơn của họ đối với một bài báo dài và chi tiết của Gerhard Gross, người cũng kết luận rằng chiến lược của Moltke năm 1914 'tuân thủ các nguyên tắc cơ bản về việc tiến hành một cuộc chiến tranh hai mặt trận như đã được Schlieffen phát triển'. Gross không đưa ra một phiên bản Kế hoạch Schlieffen hai mặt trận có sẵn, nhưng lập luận của ông ngụ ý rằng Schlieffen hẳn đã hình dung một phiên bản như vậy, vì vậy ở mức độ đó, ông ủng hộ câu chuyện do Herwig và Mombauer kể lại. Để thiết lập luận điểm của mình, Gross sẽ phải chứng minh rằng ý tưởng về một cuộc tấn công chiến lược qua trung tâm nước Bỉ với một cánh phải áp đảo lớn có liên quan đến tư duy của Schlieffen về cách chiến đấu trong một cuộc chiến tranh với Pháp và Nga. Gross đã không thiết lập được mối liên hệ đó. Bằng chứng ông đưa ra để ủng hộ luận điểm của mình thực sự chứng minh điều ngược lại – rằng Schlieffen chỉ ủng hộ một cuộc tấn công mạnh mẽ và sâu rộng như vậy trong trường hợp chiến tranh một mặt trận.
Gross nhận xét rằng khái niệm về một cuộc tấn công bọc sườn lớn bằng cánh phải của Schlieffen lần đầu tiên định hình cụ thể trong các hướng dẫn triển khai quân của Đức cho năm 1905–1906. Ông nói rằng Schlieffen lúc này bố trí Tập đoàn quân số 1 đến số 5 với 17 quân đoàn và 2,5 quân đoàn dự bị phía bắc Diedenhofen với mục đích "một cuộc tấn công sâu qua Bỉ", điều mà trước đây ông chưa từng nghĩ tới. Nhưng với những con số này, Gross hơi đánh giá thấp sự nhấn mạnh mới của Schlieffen đối với cánh phải. Ông mất dấu một số đơn vị dự bị tham gia, và ông cũng bỏ sót Tập đoàn quân số 6 khỏi danh sách lực lượng cánh phải mà rõ ràng nó thuộc về. Mặt trận của khu vực triển khai Tập đoàn quân số 6 kéo dài dọc biên giới với Luxembourg từ Remich đến Stufgen, và vị trí này, trên thực tế là điểm xuất phát của Tập đoàn quân số 6, nằm rõ ràng ở phía bắc Diedenhofen. Cánh phải của Đức trên thực tế bao gồm Tập đoàn quân số 1 đến số 6 với 20 quân đoàn và 7,5 quân đoàn dự bị, tổng cộng nhiều hơn 8 quân đoàn so với tính toán của Gross.
Sự điều chỉnh này thực sự giúp nhấn mạnh quan điểm của Gross rằng "trong các Aufmarschpläne (Kế hoạch triển khai quân số) của mình, Schlieffen chưa bao giờ tập trung trực tiếp vào cánh tấn công bên phải như vậy". Tuy nhiên, vấn đề là Gross coi cánh phải mở rộng này và ý định tấn công đằng sau nó như một sự phát triển trong kế hoạch của Schlieffen cho một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Trên thực tế, kế hoạch triển khai mà trong đó sự mở rộng này xảy ra, cùng với triển vọng về một "cuộc tiến quân vào Hà Lan và Bỉ", là Aufmarsch West I, là kế hoạch tập trung toàn bộ Lục quân Đức "để chống lại một mình Pháp". Có một kế hoạch triển khai khác được gọi là Aufmarsch West II und Ost trong trường hợp chiến tranh "chống lại Pháp và Nga", nhưng nguồn của Gross không bao gồm chi tiết về Aufmarsch West II, vì vậy chúng ta không thể biết chính xác các tập đoàn quân Đức ở phía tây sẽ được triển khai như thế nào trong một cuộc chiến với Pháp và Nga. Chúng ta biết được rằng Tập đoàn quân số 4, với ba quân đoàn, sẽ biến mất khỏi lực lượng chiến đấu ở phía tây và xuất hiện trở lại ở mặt trận phía đông với ba quân đoàn và bốn sư đoàn dự bị. Điều đó sẽ để lại bảy tập đoàn quân ở phía tây, từ số 1 đến 3 và số 5 đến 8, nhưng chúng ta không có chỉ dẫn nào về việc bao nhiêu trong số đó sẽ triển khai phía bắc Diedenhofen, hoặc việc triển khai này sẽ mở rộng xa về phía bắc đến đâu, hoặc nhiệm vụ của cánh phải sẽ là gì. Bằng chứng duy nhất chúng ta tìm thấy trong bối cảnh này về một cánh phải lớn mạnh của Đức được giao nhiệm vụ tấn công qua Bỉ liên quan đến một cuộc chiến tranh chỉ giới hạn ở chiến trường phía tây.
Lời giải thích của Gross cho sự mở rộng đột ngột và triệt để của cánh phải Đức có liên quan đến bối cảnh quốc tế thay đổi vào năm 1904-1905. Ông nói rằng vì Nga lúc này đang vướng vào xung đột với Nhật Bản, nên có vẻ như người Pháp sẽ bị 'không có sự hỗ trợ của Nga' trong bất kỳ xung đột nào với Đức, vì vậy họ sẽ áp dụng chiến lược phòng thủ với một cánh trái được tăng cường mở rộng xa hơn về phía bắc so với trước đây. Điều này khiến Schlieffen nghi ngờ hiệu quả của một cuộc tấn công bao vây trên mặt trận hẹp giữa Verdun và Mézières, vì vậy ông quyết định rằng một cuộc tấn công vòng quanh vị trí pháo đài của Pháp sẽ đòi hỏi phần lớn quân đội Đức phải tiến công nhằm vào chiến tuyến giữa Verdun và Lille. Nhưng lời giải thích này chỉ chứng minh cho luận điểm của tôi - rằng Schlieffen hình thành ý tưởng về một cuộc tấn công bọc sườn lớn để đối phó với một cuộc chiến tranh một mặt trận, một cuộc chiến trong đó Pháp thấy mình 'không có sự hỗ trợ của Nga', vì vậy người Đức không phải đối mặt với kẻ thù nào ở phía đông và có thể tập trung tất cả nguồn lực của họ ở phía tây. Điều này không thể được coi là một ví dụ về việc Schlieffen triển khai 'các nguyên tắc cơ bản về việc tiến hành một cuộc chiến tranh hai mặt trận'.
Gross cũng xem xét Generalstabsreise West năm 1905 của Schlieffen, dựa vào các nguồn tài liệu mới mà ông phát hiện trong các giấy tờ của Friedrich von Boetticher, người được đặc ân hiếm có là tiếp cận hồ sơ quân đội do Cục Lưu trữ Đế chế (Reichsarchiv) nắm giữ trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến. Loạt cuộc tập trận này, trong đó chính Schlieffen chỉ huy phía Đức, đã thử nghiệm khái niệm về một cuộc tấn công bọc sườn rộng qua Bỉ thay vì một cuộc bao vây gần vị trí biên giới của Pháp. Gross tìm thấy bằng chứng tốt ở đây cho cả chiều sâu lẫn chiều rộng tiềm năng của cuộc tấn công mà Schlieffen lúc này đã hình dung. Trong một cuộc tập trận bản đồ được gọi là Kuhl II, được tổ chức sau phần chính của Generalstabsreise, ông đã mở rộng cuộc tấn công cánh phải vòng quanh phía tây Paris, điều báo trước việc ông sử dụng thao tác đó trong bản Denkschrift tháng 12 năm 1905. Terence Zuber, nổi tiếng với lý thuyết rằng chưa bao giờ có một Kế hoạch Schlieffen, cũng không có bất kỳ gợi ý nào về nó trong các cuộc tập trận của Schlieffen, phủ nhận thẳng thừng rằng Kuhl II có liên quan đến một cuộc tấn công vòng quanh phía tây Paris.Nhưng Zuber từ chối đề cập đến báo cáo rõ ràng về thao tác đó trong cái mà ông gọi là Tài liệu 3 trong ghi chú của Boetticher. Tài liệu này kể lại rằng chỉ huy Pháp dự kiến Schlieffen sẽ lái cuộc tấn công của Đức về phía đông Paris, vì vậy ông ta đã chuẩn bị để phản công ở đó; tuy nhiên, Schlieffen 'không đi về phía đông Paris, thay vào đó ông mở rộng vòng bao vây xa hơn về bên phải. Tập đoàn quân số 1 Đức vượt sông Seine tại Rouen. Điều này khiến vị trí của Pháp trên hạ lưu sông Seine không thể phòng thủ được.' Zuber cũng bác bỏ bằng chứng bản đồ cho động thái này, tuyên bố rằng bản đồ Kuhl II cho thấy 'người Đức không đi về phía tây Paris'.Trong bản sao của chính ông về bản đồ này, Zuber đã chắc chắn rằng người Đức không đi về phía tây Paris - bằng cách cắt bỏ mép trái của bản đồ, phần cho thấy họ đang làm chính xác điều đó!
Bằng chứng rõ ràng minh oan cho quan điểm của Gross trong cuộc tranh cãi cụ thể này, nhưng nó không giúp ích cho lập luận tổng thể của ông, vốn cho rằng cuộc tấn công sâu rộng bằng cánh phải vào Pháp là một phần thiết yếu trong khái niệm của Schlieffen về việc chiến đấu trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Trong cuộc huấn luyện tham mưu này, toàn bộ Lục quân Đức được triển khai ở phía tây: 'Điều đặc biệt thuận lợi cho nước Đức là giả định rằng Đức có thể sử dụng tất cả lực lượng của mình chống lại Pháp và sẽ không phải để lại bất kỳ đơn vị nào ở phía đông'. Vì vậy, Kuhl II được thực hiện với số quân được chỉ định trong kế hoạch triển khai một mặt trận Aufmarsch West I - cộng thêm khá nhiều quân nữa. Schlieffen cho phép đưa vào 20 sư đoàn Landwehr ở phía Đức, thay vì 26,5 Landwehr chính thức có sẵn. Ông đang giả định một sự mở rộng ứng biến của Lục quân Đức tương đương khoảng bảy sư đoàn, điều báo trước sự mở rộng lớn hơn nhiều mà ông đề xuất trong bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905. Ông đã nghi ngờ rằng toàn bộ Lục quân Đức sẽ không đủ cho cuộc tấn công bọc sườn và trận chiến tiêu diệt tiếp theo tạo nên kế hoạch tấn công mới của ông.
Theo Gross, kết quả của Generalstabsreise West năm 1905 đã củng cố niềm tin của Schlieffen vào cuộc tấn công bọc sườn qua Bỉ, vì vậy ông tiếp tục tăng cường cánh phải của Đức 'cho một cuộc bao vây quy mô lớn bao trùm toàn bộ nước Bỉ và một phần Hà Lan' trong kế hoạch điều động tiếp theo vào năm 1906-1907. Nhưng một lần nữa Gross đang nói về Aufmarsch West I, kế hoạch dành cho một cuộc chiến 'chỉ chống lại Pháp'. Ông không tìm thấy sự hỗ trợ tài liệu nào cho luận điểm của mình rằng cuộc tấn công bọc sườn qua Bỉ là một phần không thể thiếu trong chiến lược của Schlieffen cho một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Tất cả các ví dụ của Gross đó đều liên quan đến một cuộc chiến trên một mặt trận. Để chứng minh rằng nó cũng được dự định sử dụng trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận, ông ít nhất phải chứng minh rằng Schlieffen tin rằng 33 quân đoàn được triển khai chống Pháp trong Aufmarsch West II là đủ cho mục đích của một cuộc tấn công chiến lược quyết định.
Nhưng không có bằng chứng nào cho thấy điều đó, chỉ có bằng chứng ngược lại, được chứa trong bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 của Schlieffen. Gross thừa nhận rằng bản ghi nhớ dựa trên Aufmarsch West I, với toàn bộ Lục quân Đức ở phía tây. Ông nói rằng bản ghi nhớ bổ sung cho các kế hoạch triển khai và điều động chính thức bằng 'những đề xuất rộng hơn và toàn diện hơn cho việc tiến hành các hoạt động dự kiến'. Những đề xuất này bao gồm ý tưởng tấn công vòng quanh phía tây Paris nếu điều đó tỏ ra cần thiết để bao vây quân đội Pháp, và khía cạnh này của kế hoạch đã làm nổi bật câu hỏi về số quân. Xa rời việc cân nhắc rằng dự án có thể được thực hiện với 33 quân đoàn của Aufmarsch West II, Schlieffen nghĩ rằng nó sẽ đòi hỏi nhiều hơn rất nhiều so với 39,5 quân đoàn của Aufmarsch West I. Ông giả định rằng có thể tăng ngay lên 40,5 quân đoàn bằng cách giao vai trò cầm cự cho lực lượng đồn trú Strasbourg và tạo ra một sư đoàn chủ lực mới từ các thành phần dự phòng của các đơn vị khác. Nhưng ông cũng nhấn mạnh một sự tăng cường đáng kể nữa dưới hình thức tám quân đoàn mới, được thành lập từ lực lượng Ersatz của quân đội Đức. Việc tăng cường Lục quân lên 48,5 quân đoàn bằng cách triển khai các nguồn lực này, ông nói, là 'điều tối thiểu chúng ta buộc phải làm'. Do đó, không có chuyện thực hiện chiến dịch tốn kém này với 33 quân đoàn có sẵn ở phía tây trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận, và Schlieffen không bao giờ đề xuất rằng nó nên được thực hiện trong bối cảnh đó.
Gross không chứng minh được rằng khái niệm tấn công mà Schlieffen chấp nhận năm 1905 có bất kỳ liên hệ nào với các nguyên tắc chiến đấu trong chiến tranh hai mặt trận của ông. Để xác định những nguyên tắc đó, ông nên xem xét kỹ hơn bản nhận xét ván cờ đánh trận vào tháng 11-12 năm 1905, nơi Schlieffen trực tiếp giải quyết tình thế tiến thoái lưỡng nan chiến lược của Đức trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận và nêu rõ kết luận chung của mình. Ông nói rằng trong một cuộc chiến với Pháp và Nga, người Đức sẽ bị áp đảo nặng nề đến mức không thể mở một cuộc tấn công ngay cả ở một bên, vì vậy họ phải đợi kẻ thù của họ tấn công trước và sau đó cố gắng đánh bại họ bằng các cuộc phản công nhanh chóng liên tiếp. Chính vì liên quan đến chiến lược phòng ngự-phản công này mà ông nói 'chúng ta cần phải tiêu diệt một kẻ thù trong thời gian ngắn nhất có thể để được tự do quay sang đối phương kia'. Các đối thủ của Đức không cân sức. Schlieffen tính rằng người Anh và Pháp sẽ tấn công ở phía tây với tổng cộng 1.300.000 bộ binh, trong khi 500.000 bộ binh Nga được điều động chống lại Đức ở phía đông. Câu hỏi quan trọng là, liệu người Đức nên tập trung trước tiên chống lại kẻ thù mạnh hơn hay yếu hơn? Schlieffen thừa nhận rằng đây là một vấn đề cân bằng tinh tế vì có những lập luận hợp lí và chống lại cả 2 lựa chọn. Lựa chọn trong dịp này là bắt đầu bằng cách tập trung càng nhiều sức mạnh càng tốt ở phía đông, 'bởi vì có khả năng lớn hơn không chỉ để đánh bại quân đội Nga, mà còn để nghiền nát hoàn toàn nó'. Các lực lượng Đức còn lại ở phía tây sẽ bị áp đảo nặng nề về số lượng bởi vì một nửa quân đội Đức, mức tối đa có thể vận chuyển trên ít tuyến đường sắt dẫn đến Đông Phổ, sẽ triển khai ngay tại đó cho cuộc phản công chủ yếu.
Việc thay đổi Schwerpunkt sang phía đông đã tạo ra kết quả mong muốn. Với 38 sư đoàn trên mặt trận đó, quân Đức gần như ngang bằng với kẻ thù, nhưng họ có hai lợi thế riêng biệt trong các hoạt động phản công của mình. Thứ nhất là Hồ Masurian, nơi phân cách tập đoàn quân Niemen và Narew của Nga trong giai đoạn đầu của cuộc hành quân vào Đông Phổ. Thứ hai là pháo đài Königsberg (ở dạng mở rộng), nơi một tập đoàn quân Đức có thể đóng quân sẵn sàng tấn công sườn phải của tập đoàn quân Niemen đang tiến lên. Kẻ thù bắt đầu tiến lên vào ngày thứ 28, và 3 ngày sau người Đức khởi động cuộc phản công nhằm vào cả hai sườn của cả hai tập đoàn quân Nga, điều này đã dẫn đến sự tiêu diệt gần như hoàn toàn lực lượng xâm lược. Schlieffen một lần nữa nhận xét về ưu điểm của một cuộc phản công vào sườn và hậu phương của kẻ thù, nhưng một lần nữa, ông đang nói về một đòn phản công chống lại một đội quân xâm lược, chứ không phải một cuộc xâm lược sâu vào lãnh thổ địch. Với việc sử dụng kỹ thuật bao vây được đề nghị, người Đức đã kết liễu kẻ tấn công trong 4 ngày. Đến ngày thứ 35, việc chuyển quân tiếp viện đến mặt trận phía tây đang được tiến hành.
Trong khi đó, các sự kiện ở phía tây cho thấy lợi thế của phòng thủ chiến lược có thể lấn át bất lợi nghiêm trọng về số lượng mà người Đức đang gặp phải. Người Pháp tấn công qua Bỉ và người Đức sẽ nhận được sự hỗ trợ từ quân đội Hà Lan và Bỉ, sử dụng đường sắt Bỉ và tiếp cận các pháo đài Namur, Liège và Antwerp. Cánh trái của lực lượng xâm lược bị chặn đứng trên tuyến giữa Antwerp và Liège, và sau đó bị tấn công vào sườn và hậu phương bởi quân Đức và Bỉ đột phá ra khỏi Antwerp. Đến ngày thứ 37, các tập đoàn quân địch phía bắc sông Meuse đã bị bao vây và người Đức mở một cuộc tấn công khác qua Namur vào sườn và hậu phương của lực lượng xâm lược chủ lực. Kết hợp với một cuộc tiến công chính diện, điều này dẫn đến việc bao vây các Tập đoàn quân số 2, 3 và 5 của Pháp. Đến khi quân tiếp viện Đức đến từ phía đông, sự sụp đổ hoàn toàn của cuộc tấn công của Pháp đã là điều đã được định trước.
Cuộc tập trận này dẫn đến những chiến thắng lẫy lừng của Đức trên cả hai mặt trận, nhưng Schlieffen không ngụ ý rằng nó nhất thiết phải báo trước kết quả cho các kế hoạch chiến tranh trong tương lai. Người Đức đã được hưởng lợi không nhỏ từ sự hỗ trợ ngẫu nhiên của Hà Lan và Bỉ. Chín sư đoàn Hà Lan và Bỉ đã phần nào bù đắp cho sự yếu kém về số lượng của người Đức, nhưng có lẽ quan trọng hơn là các pháo đài nằm hai bên sườn các tuyến tiến quân của địch, và mạng lưới đường sắt tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tấn công bất ngờ từ Antwerp và cuộc tấn công tiếp theo qua Namur. Trong bản nhận xét ván cờ, Schlieffen cảnh báo rằng những lợi thế này không thể được coi là chắc chắn. Ông nói rằng sự ủng hộ của Hà Lan và Bỉ sẽ không chắc chắn ngay cả khi người Pháp vi phạm tính trung lập của Bỉ. Nếu các lực lượng yếu của Đức bị tước mất cơ hội tấn công quân đội Pháp trong quá trình hành quân qua Bỉ, họ đã phải rút lui về sông Moselle và bất lực chứng kiến trong khi "một vùng lãnh thổ rộng lớn của Đức bị tàn phá".
Chúng ta không thể biết chắc chắn những hàm ý nào Schlieffen có thể rút ra từ cuộc tập trận này cho việc lập kế hoạch chiến tranh trong tương lai. Vào khoảng thời gian ván cờ bắt đầu, ông đã soạn thảo các hướng dẫn triển khai cuối cùng cho một cuộc chiến tranh hai mặt trận, tập trung bảy phần tám quân đội Đức ở phía tây và qua đó báo hiệu ý định bắt đầu bằng một cuộc phản công mạnh mẽ chống lại cuộc tấn công của Anh-Pháp. Kiểu triển khai của ván cờ, với sự phụ thuộc rủi ro vào sự hỗ trợ của Hà Lan và Bỉ ở phía tây, không được phản ánh trong kế hoạch chiến tranh chính thức. Tuy nhiên, ván cờ tiết lộ rằng ngay cho đến cuối sự nghiệp, Schlieffen vẫn đang cân nhắc giải pháp lý tưởng cho tình thế tiến thoái lưỡng nan chiến lược của Đức trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Nhưng suy nghĩ của ông về vấn đề này lúc này xoay quanh các thông số của một chiến lược phòng ngự-phản công, và một giải pháp ông chưa bao giờ đề xuất trong suốt thời gian làm tham mưu trưởng là bắt đầu một cuộc chiến tranh chống Pháp và Nga bằng một cuộc xâm lược toàn lực vào Pháp qua Bỉ. Sai lầm đó là khái niệm chiến thắng rất riêng của Moltke cháu trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận. Chiến dịch Marne đánh dấu một sự đoạn tuyệt sâu sắc với các ý tưởng chiến lược của Schlieffen, chứ không phải là sự nối tiếp của chúng. Nó cũng mâu thuẫn với quan điểm của Helmuth von Moltke chú, người đã tuyên bố vào tháng 4 năm 1871 rằng 'Nước Đức không thể hy vọng thoát khỏi một kẻ thù bằng một chiến thắng tấn công nhanh chóng ở phía Tây để sau đó quay sang đối phương kia'. Quân đội Đức đã bước vào cuộc chiến vào tháng 8 năm 1914 với một kế hoạch không có sự tương đồng trong tư duy của các tham mưu trưởng trước đây.
Chiến tranh Thế giới thứ nhất lẽ ra đã bắt đầu rất khác nếu người Đức hành động phù hợp với ý định thực sự của Schlieffen trong trường hợp chiến tranh trên hai mặt trận, và có đủ bằng chứng xác đáng để tái dựng kịch bản thay thế - một cuộc phản công của Đức chống lại một cuộc tấn công của Pháp ở Lorraine. Việc lập kế hoạch chiến tranh của Pháp bị ràng buộc bởi hai mệnh lệnh chính trị. Thứ nhất, Pháp cam kết theo thỏa thuận với đồng minh Nga để tiến hành một cuộc tấn công 'toàn lực và ngay lập tức', một cuộc tấn công 'mạnh mẽ và quyết đoán' chống lại Đức khi chiến tranh bùng nổ. Hơn nữa, các chính phủ Pháp kế tiếp nhau đã quyết định không xâm phạm lãnh thổ Bỉ trừ khi người Đức làm như vậy trước. Do đó, tham mưu trưởng Pháp Joseph Joffre buộc phải đưa vào kế hoạch chiến tranh của mình một biến thể cho phép một cuộc tấn công toàn diện hoàn toàn tránh lãnh thổ Bỉ, và điều đó đã được áp dụng vào năm 1914 nếu người Đức ở thế phòng thủ và không tiến vào Bỉ. Đối với trường hợp này, Joffre quy định rằng Tập đoàn quân số 1, 2 và 4 của Pháp, tổng cộng khoảng 60 phần trăm quân tuyến một của ông, nên xâm nhập Lorraine giữa Metz và Strasbourg trong khi Tập đoàn quân số 3 tiến công trực tiếp vào khu phức hợp pháo đài Metz-Diedenhofen. Ở cánh trái, Tập đoàn quân số 5 sẽ tấn công phía bắc Diedenhofen vào Lorraine, nhưng không với toàn lực: đủ lực lượng phải được giữ lại dọc biên giới Bỉ như một biện pháp phòng ngừa trong trường hợp người Đức quyết định tấn công ở đó sau cùng. Bản thân Joffre nhận thức rõ rệt những nguy hiểm gắn liền với một cuộc tấn công của Pháp ở Lorraine. Ông nói rằng mục tiêu sẽ là phá vỡ mặt trận của Đức, nhưng ông thừa nhận rằng:
"Trong quá trình thực hiện chiến dịch này, lực lượng của chúng ta có thể bị tấn công vào sườn từ các đòn tấn công có khả năng đến từ cả Metz và khu vực Moisheim-Strasbourg. Bằng cách đột nhập như một cái nêm vào các tuyến của kẻ thù, chúng ta sẽ ít nhiều tự mời gọi việc bị bao vây."
Trong vài ngày vào năm 1914, từ ngày 13 đến 16 tháng 8, bộ chỉ huy tối cao quân đội Đức có ấn tượng rằng kẻ thù thực sự sắp tấn công với 60 phần trăm lực lượng của họ giữa Metz và dãy Vosges. Moltke quyết định rằng Tập đoàn quân số 6 nên rút lui sau sông Saar trong khi chuẩn bị phản công cả hai sườn địch: Tập đoàn quân số 4 và 5 sẽ tập hợp tại Metz để tấn công sườn trái trong khi Tập đoàn quân số 7 đánh vào sườn phải từ hướng dãy Vosges. Moltke nghĩ rằng một cuộc đụng độ trọng đại như vậy sẽ hoàn toàn lu mờ mọi hoạt động ở Bỉ, và rõ ràng ông dự định chuyển phần lớn cánh phải của Đức xuống phía nam để tham gia vào các trận chiến ở Lorraine nếu nơi đó trở thành chiến trường chính. Trong các cuộc huấn luyện tham mưu năm 1906 và 1912, Moltke đã chỉ trích bộ chỉ huy Đức vì kiên trì với cuộc hành quân qua Bỉ sau khi người Pháp đã dồn lực lượng chủ lực của họ cho một cuộc tấn công ở Lorraine. Mục tiêu duy nhất, ông nói, là:
"đánh vào quân đội Pháp với toàn bộ lực lượng của chúng ta và đánh bại nó ở bất cứ nơi nào nó có thể. Trong trường hợp này, trận chiến quyết định nằm ở Lorraine, và tất cả lực lượng của chúng ta phải được điều động ngay lập tức để tham gia vào quyết định đó."
Ý định chính của Moltke là tấn công qua Bỉ để tiếp cận lực lượng địch chủ lực, nhưng ông hoàn toàn sẵn sàng phản công ở Lorraine nếu những lực lượng đó được dồn vào một cuộc tấn công ở đó. Schlieffen từ lâu trước đó đã phác thảo một phản ứng tương tự đối với một cuộc xâm lược lớn của Pháp qua 'khoảng không gian tương đối hẹp giữa Metz và Strasbourg'. Mục tiêu không được là đẩy lùi kẻ thù về vị trí biên giới của họ; thay vào đó, họ phải bị giao tranh từ ba phía, 'từ Metz, từ Saar và từ Strasbourg', và bị chặn đứng trong túi Lorraine, vì điều đó sẽ cho người Đức cơ hội tốt để chúnh chiến thắng quyết định bằng các cuộc tấn công bao vây từ Metz và Strasbourg.
Đến ngày 16 tháng 8 năm 1914, rõ ràng là người Pháp miễn cưỡng tiến lên ở Lorraine, vì vậy Moltke ra lệnh cho cuộc tấn công cánh phải của Đức qua Bỉ tiến hành như kế hoạch. Nhưng một tư thế phòng thủ nhất quán của Đức lẽ ra đã buộc Joffre phải tấn công ở Lorraine – và tước đi cơ hội bổ sung cho cuộc tấn công chính diện đó bằng một cuộc tấn công bao vây qua Bỉ. Điều này lẽ ra đã đặt phần lớn quân đội Pháp vào một tình huống rất bất lợi, mang lại cho người Đức cơ hội thiết lập một trận Kesselschlacht hoàn hảo. Nếu Moltke tuân theo quy tắc phản công của Schlieffen để tiến hành một cuộc chiến tranh hai mặt trận, kết quả lẽ ra là một trận đánh lớn trên sông Saar, chứ không phải trên sông Marne. Mục tiêu của người Đức lẽ ra là cắt đứt các tập đoàn quân Pháp đang tấn công tuyến sông đó và dồn một lực lượng áp đảo vào họ, trong khi ngăn chặn cánh trái yếu của Pháp với sự trợ giúp của Metz-Diedenhofen và sông Moselle. Trận chiến lớn đầu tiên của cuộc chiến lẽ ra đã diễn ra trên lãnh thổ Đức, với lực lượng chủ lực của kẻ thù bị kẹt giữa Metz và Strasbourg. Khi nói về tầm quan trọng chiến lược của những pháo đài này năm 1904, Schlieffen nói, 'Ý tôi không phải là một Metz và Strasbourg bị bao vây và phòng thủ, mà là một Metz và Strasbourg nơi các tập đoàn quân tập hợp và từ đó họ hành quân để tấn công bất ngờ kẻ thù'.
Nhưng vào năm 1914, chính người Pháp đã tập hợp một tập đoàn quân mới trong pháo đài Paris cho một cuộc tấn công bất ngờ vào cánh phải đang tiến quân của Đức, lúc đó đã bị suy yếu nghiêm trọng như một 'hậu quả của chính sự tiến quân'. Không đi quá xa vào lĩnh vực lịch sử giả định, chúng ta có thể suy đoán một cách hợp lý rằng cơ hội chiến thắng của Đức trên sông Saar lẽ ra đã tốt hơn nhiều so với trên sông Marne. Và một chiến thắng ở Lorraine, gần các đầu mối đường sắt của Đức, lẽ ra đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nhanh chóng quân tiếp viện đến mặt trận Nga. Dựa trên hồi ức cá nhân về các cuộc tập trận hai mặt trận của Schlieffen, Hermann von Kuhl nói rằng tham mưu trưởng 'đặc biệt coi trọng' việc đánh bại người Pháp bằng một cuộc phản công 'trên hoặc gần lãnh thổ Đức' để 'các lực lượng mạnh của Đức' vẫn ở gần các điểm lên tàu đường sắt của họ cho chiến trường phía đông. Đây là một ví dụ khác về sự nhấn mạnh của Schlieffen trong việc nén chặt chiến dịch phía tây về cả thời gian lẫn không gian để đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của một cuộc chiến tranh trên hai mặt trận.
Nếu chúng ta muốn hình dung các học thuyết của Schlieffen đơm hoa kết trái trong hoàn cảnh năm 1914, những gì chúng ta có được là hình ảnh về một trận Kesselschlacht khổng lồ ở Lorraine. Và nếu điều đó có vẻ không phù hợp, thì đó là vì sự diễn giải sai lịch sử về Kế hoạch Schlieffen có xu hướng che khuất lịch sử về kế hoạch phản công của Schlieffen. Tình trạng đó lẽ ra đã được khắc phục từ năm 1999 khi Terence Zuber cho ra mắt bài báo đột phá 'Kế hoạch Schlieffen cần được xem xét lại', trong đó ông lập luận rằng từ năm 1898, 'chiến lược phản công vẫn là chiến lược được ưa thích của Schlieffen'. Zuber đã phát hiện ra điều gì đó cực kỳ quan trọng, nhưng ông đã làm hỏng luận điểm của mình bằng cách đẩy nó đến một thái cực không thể bảo vệ được. Ông tuyên bố rằng 'chưa bao giờ có một "Kế hoạch Schlieffen"', ý ông muốn nói rằng bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 của Schlieffen 'hoàn toàn không phải là một kế hoạch chiến tranh', mà là một ngụ ngôn quân sự minh họa nhu cầu để mở rộng chế độ nghĩa vụ quân sự toàn quốc.
Tại một điểm trong bản ghi nhớ, Schlieffen thực sự phàn nàn về việc nước Đức không huấn luyện và trang bị vũ khí cho mọi người đủ sức khỏe, thêm rằng: 'Thực tế là Pháp với dân số 39 triệu người cung cấp 993 tiểu đoàn cho Lục quân trong khi Đức với 56 triệu dân chỉ tạo ra 971 tiểu đoàn, nói lên tất cả'. Nhưng ông chấp nhận thực tế đó, dù đáng trách đến đâu, như một điều đương nhiên cho mục đích lập kế hoạch chiến tranh trong thời điểm hiện tại. Trong một ghi chú ở đầu bản ghi nhớ, ông đề cập đến cùng con số 971 tiểu đoàn như là sức mạnh bộ binh của Lục quân mà ông có thể sử dụng, nhưng ông chỉ ra sau đó rằng 'chúng ta có nhiều tiểu đoàn Ersatz của các trung đoàn bộ binh' và đề xuất thành lập tám quân đoàn mới từ các tiểu đoàn Ersatz . Các tiểu đoàn này không được tính là một phần của Lục quân, vì chức năng bình thường của chúng là gửi quân ra mặt trận khi cần thiết để thay thế thương vong cho các đơn vị chiến đấu. Nhưng Schlieffen lúc này nhấn mạnh rằng chúng nên tham chiến cùng với Lục quân để đưa sức mạnh của Đức lên đến mức cần thiết cho chiến dịch mà ông đề xuất. Kế hoạch Schlieffen không dựa trên việc mở rộng chế độ nghĩa vụ quân sự toàn quốc trong tương lai , mà dựa trên việc triển khai ngay lập tức chống lại Pháp gần như toàn bộ nhân lực được đào tạo dự kiến điều động theo các kế hoạch chiến tranh hiện tại của Đức, bao gồm cả dự bị và Landwehr được phân công cho các tiểu đoàn Ersatz . Với điều kiện tất cả các nguồn lực hiện có này có thể được sử dụng trực tiếp cho nhiệm vụ trên chiến trường , Schlieffen tính rằng sẽ có thể tiêu diệt quân đội Pháp bằng một cuộc tấn công mạnh mẽ qua Bỉ. Tất nhiên, chúng ta có thể nói rằng kế hoạch như một tổng thể cho thấy sự cần thiết của chế độ nghĩa vụ quân sự toàn quốc đơn giản vì nhiều đơn vị ứng biến mà nó kêu gọi. Rõ ràng, sẽ tốt hơn nếu các đơn vị đó sẵn sàng trong một tổ chức quân đội được mở rộng. Nhưng nếu việc đưa ra trường hợp đó là mục đích duy nhất của bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905, thì chắc chắn sẽ thuyết phục hơn nếu Schlieffen mô tả một kế hoạch thất bại do vấn đề nhân lực của quân đội Đức, chứ không phải một kế hoạch mà ông nghĩ có thể thành công bất chấp những vấn đề đó. Tôi vẫn khẳng định rằng tài liệu này thực sự là những gì rõ ràng nó là - một kế hoạch để đạt được chiến thắng hoàn toàn trong một cuộc chiến tranh chỉ giới hạn ở chiến trường phía tây.
Đối với quan điểm của Zuber về việc Schlieffen thích phản công hơn, tôi sẽ lập luận rằng Schlieffen không sùng bái tấn công hay phản công, mà dựa trên các quyết định chiến lược của mình vào loại hình chiến tranh đang xem xét. Những gì Zuber thực sự chỉ ra là Schlieffen thích phản công hơn trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận, nhưng điều đó không có nghĩa là ông thích phản công trong mọi hoàn cảnh. Trong một cuộc phản công trong lãnh thổ của chính mình hoặc đồng minh, người Đức có thể tiêu diệt tối đa chỉ phần lực lượng địch được dồn vào một cuộc xân lược chống lại họ, nhưng một cuộc xâm lược sâu vào Pháp mở ra triển vọng bao vây và tiêu diệt toàn bộ quân đội Pháp, vì vậy có mọi lý do để Schlieffen thích lựa chọn đó nếu có thể đủ khả năng. Ông đánh giá rằng nó có thể đủ khả năng trong một cuộc chiến tranh một mặt trận, và đó là đề xuất mà ông đã trình bày một cách nghiêm túc trong bản ghi nhớ tháng 12 năm 1905 của mình.
Bằng cách 'tra lại tư liệu', tôi đã cố gắng phân biệt thực tế với hư cấu liên quan đến kế hoạch chiến tranh của Đức trong giai đoạn tiền 1914. Hãy để tôi kết luận bằng cách nêu bốn luận điểm mà tôi hy vọng có thể góp phần giải quyết vấn đề gây tranh cãi này:
1. Có một Kế hoạch Schlieffen cho một cuộc xâm lược quy mô lớn bằng cánh phải vào Pháp, nhưng nó được thiết kế chỉ dành cho cuộc chiến tranh một mặt trận.
2. Không bao giờ có cái gọi là Kế hoạch Schlieffen mà Herwig, Gross và Mombauer mô tả - một cuộc xâm lược quy mô lớn bằng cánh phải vào Pháp như là giai đoạn đầu tiên trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận.
3. Có một Kế hoạch Schlieffen về việc tiến hành một cuộc chiến tranh hai mặt trận và đó là phản công nhanh chóng liên tiếp trên cả hai mặt trận.
4. Có một Kế hoạch Moltke cho một cuộc tấn công quy mô lớn bằng cánh phải vào Pháp như là giai đoạn đầu tiên trong một cuộc chiến tranh hai mặt trận, nhưng nó đi ngược lại ý định của Schlieffen và đã thất bại trong trận sông Marne.
Tài trợ
Tác giả không nhận được hỗ trợ tài chính nào cho nghiên cứu, tác quyền và/hoặc xuất bản bài viết này.
ORCID iD
Terence M Holmes https://orcid.org/0000-0002-7585-7872
Tiểu sử tác giả
Terence M Holmes đã xuất bản rộng rãi về văn học và chính trị Đức trong thời gian là Giảng viên tiếng Đức tại Đại học Swansea. Hiện ông là Nghiên cứu viên Danh dự tại đó với mối quan tâm đặc biệt về lịch sử và lý thuyết quân sự Đức, đặc biệt là các ý tưởng của Schlieffen và Clausewitz.
---
Tài liệu tham khảo
1. Holger H. Herwig, “Review of Hans Ehlert, Michael Epkenhans and Gerhard P. Gross, eds, *The Schlieffen Plan: International Perspectives on the German Strategy for World War I*, trans. by David T. Zabecki (Lexington: The University Press of Kentucky, 2014)”, *The Journal of Military History*, 79 (2015), p. 469.
2. Hans Ehlert, Michael Epkenhans, and Gerhard P. Gross, eds., *The Schlieffen Plan: International Perspectives on the German Strategy for World War I*, trans. David T. Zabecki (Lexington: University Press of Kentucky, 2014).
3. Gerhard Ritter, *The Schlieffen Plan: Critique of a Myth* (London: O. Wolff, 1958), pp. 99-140 (Appendix).
4. Peter Rassow, “Schlieffens Verhältnis zu Moltke”, *Die Welt als Geschichte*, XIV (1954), pp. 157-61.
5. Reichsarchiv, *Der Weltkrieg 1914 bis 1918: Die militärischen Operationen zu Lande* (12 vols. Berlin: Mittler, 1925-1939), I pp. 52-5.
6. Wilhelm Groener, *Das Testament des Grafen Schlieffen* (Berlin: Mittler, 1927) and Wilhelm Groener, *Der Feldherr wider Willen* (Berlin: Mittler, 1930).
7. Ritter, *The Schlieffen Plan*, pp. 66, 17.
8. Ritter, *The Schlieffen Plan*, pp. 4, 7.
9. Terence Zuber, 'The Schlieffen Plan Reconsidered', *War in History*, VI (1999), pp. 296-7, 305.
10. Holger H. Herwig, *The Marne. 1914: The Opening of World War I and the Battle That Changed the World* (New York: Random House, 2009), p. 35. Herwig seems to believe that the Schlieffen plan was written in a single day -- 'On 28 December 1905', to be precise (p. 35). In fact, the first draft of the plan was dated '31 December 1905' and work on it continued through a series of further drafts in the course of January 1906. The final version, backdated 'December 1905', was handed on to Schlieffen's successor in February 1906 (Ritter, *The Schlieffen Plan*, pp. 48, 131-4). Because of this rather complicated history, the memorandum is variously referred to as dating from December 1905, or January or February 1906. Here I will call it the December 1905 memorandum, as that is the most familiar appellation.
11. Ritter, *The Schlieffen Plan*, pp. 134-5.
12. Herwig, *The Marne, 1914*, p. 35.
13. Herwig, *The Marne, 1914*, p. 44. The right-left force ratio was in fact 3 to 1: see Terence M. Holmes, ‘Absolute Numbers: The Schlieffen Plan as a Critique of German Strategy in 1914’, *War in History*, XXI (2014), pp. 194-6.
14. Following a military convention of 1888, the Italian 3rd army with five army corps (not three) was to deploy alongside the Germans on the Upper Rhine, and this remained a formal aspect of German war planning right up to 1914. The reason why there are no Italians in the Schlieffen Plan is that Schlieffen had no faith in this arrangement. He said in March 1901 that ‘we cannot count on these 200,000 men’, and in November 1903: ‘we cannot count on the Italian 3rd Army’ (Wolfgang Foerster, *Aus der Gedankenwerkstatt des deutschen Generalstabes* (Berlin: Mittler, 1931), pp. 75-6, 82-3, 85).
15. Ritter, *The Schlieffen Plan*, p. 138.
16. Herwig, *The Marne, 1914*, p. 36.
17. Herwig, *The Marne, 1914*, pp. 35-6.
18. Ritter, *The Schlieffen Plan*, pp. 143-5.
19. Herwig, *The Marne, 1914*, p. 36.
20. Ritter, *The Schlieffen Plan*, p. 144.
21. Herwig, *The Marne, 1914*, p. 37.
22. Herwig, *The Marne, 1914*, pp. 36-7.
23. Alfred von Schlieffen, *Dienstschriften* (2 vols. Berlin: Mittler, 1937-1938), II, p. 163.
24. Schlieffen, *Dienstschriften*, II, p. 177.
25. War Game November-December 1905: Exercise Critique, in Terence Zuber, *German War Planning 1891-1914: Sources and Interpretations* (Woodbridge: Boydell, 2004), p. 170.
26. Herwig, *The Marne, 1914*, p. 36.
27. Ritter. *The Schlieffen Plan*. n. 141.
28. Schlieffen, *Dienstschriften*, II, p. 177.
29. Schlieffen, *Dienstschriften*, II, p. 176.
30. Schlieffen, *Dienstschriften*, II, p. 178.
31. Schlieffen, *Dienstschriften*, II, p. 178.
32. Schlieffen, *Dienstschriften*, II, pp. 178-9.
33. Annika Mombauer, ‘German War Plans’, in Richard F. Hamilton and Holger H. Herwig, eds., *War Planning 1914* (Cambridge: Cambridge University Press, 2010), p. 53.
34. Mombauer, ‘German War Plans’, p. 50.
35. Mombauer, ‘German War Plans’, p. 53, footnote 13.
36. War Game November/December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, pp. 167-8.
37. Mombauer, ‘German War Plans’, p. 53.
38. War Game November/December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, p. 168.
39. War Game November/December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, p. 167.
40. Ritter, *The Schlieffen Plan*, p. 144.
41. Mombauer, ‘German War Plans’, pp. 48, 50.
42. Herwig, *The Marne, 1914*, pp. 37, 363.
43. Gerhard P Gross, “There Was a Schlieffen Plan: New Sources on the History of German Military Planning”, in Hans Ehlert, Michael Epkenhaus and Gerhard P. Gross, eds., *The Schlieffen Plan: International Perspectives on the German Strategy for World War I*, trans. by David T. Zabecki (Lexington: The University Press of Kentucky, 2014), p. 119.
44. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, p. 109.
45. Aufmarsch 190506, in Ehlert et al., *The Schlieffen Plan*, p. 421.
46. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, p. 109.
47. Aufmarsch 190506, in Ehlert et al., *The Schlieffen Plan*, pp. 416-23.
48. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, pp. 109-10.
49. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, pp. 113-14.
50. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, p. 114.
51. Terence Zuber, *The Real German War Plan 1904-14* (Stroud: The History Press, 2011), p. 94.
52. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, p. 114.
53. Zuber, *The Real German War Plan*, p. 94.
54. Zuber, *The Real German War Plan*, p. 95.
55. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, p. 113.
56. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, p. 114.
57. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, p. 115.
58. Aufmarsch 1906–1907, in Ehlert et al., *The Schlieffen Plan*, p. 425.
59. Gross, “There Was a Schlieffen Plan”, p. 115.
60. Ritter, *The Schlieffen Plan*, pp. 137-8.
61. Ritter, *The Schlieffen Plan*, p. 138.
62. War Game November-December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, pp. 167-8.
63. War Game November-December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, pp. 168-9.
64. War Game November-December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, pp. 170-4.
65. War Game November-December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, pp. 178-84.
66. War Game November-December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, pp. 178-9.
67. War Game November-December 1905: Exercise Critique, in Zuber, *German War Planning*, p. 178.
68. Aufmarsch 1906–1907, in Ehlert et al., *The Schlieffen Plan*, p. 425.
69. Ritter, *The Schlieffen Plan*, p. 18.
70. Robert A Doughty, *Pyrrhic Victory: French Strategy and Operations in the Great War* (Cambridge MA: The Belknap Press, 2005), pp. 22-4.
71. Doughty, *Pyrrhic Victory*, p. 20.
72. Jean-Baptiste Duroselle, *La Grande Guerre des Français 1914-1918* (Paris: Perrin, 1994), p. 62.
73. Joseph Joffre, *The Memoirs of Marshal Joffre*, trans. T. Bentley Mott (2 vols. London: Geoffrey Bles, 1932), I, p. 39.
74. Reichsarchiv, *Der Weltkrieg*, I. pp. 183-5, 132.
75. Wolfgang Foerster, *Aus der Gedankenwerkstatt des deutschen Generalstabes*, pp. 37-8.
76. Friedrich von Boetticher, ‘Der Lehrmeister des neuzeitlichen Krieges’, in Friedrich von Cochenhausen, ed., *Von Scharnhorst zu Schlieffen 1806-1906: Hundert Jahre preußisch-deutscher Generalstab* (Berlin: Mittler, 1933), p. 260.
77. Reichsarchiv, *Der Weltkrieg*, I. p. 185.
78. Exercise critique of first *Generalstabsreise West* of 1904, in Zuber, *German War Planning*, p. 160.
79. Hew Strachan, *The First World War: To Arms* (Oxford: Oxford University Press, 2001), I, p. 241.
80. Hermann von Kuhl, *Der deutsche Generalstab in Vorbereitung und Durchführung des Weltkrieges* (Berlin: Mittler, 1920), p.176.
81. Zuber, 'The Schlieffen Plan Reconsidered', p. 296.
82. Zuber, 'The Schlieffen Plan Reconsidered', pp. 296-7.
83. Ritter, *The Schlieffen Plan*, p. 138.
84. Ritter, *The Schlieffen Plan*, p. 134.
85. Ritter, *The Schlieffen Plan*, pp. 142-43
86. Ritter, *The Schlieffen Plan*, pp. 143-44
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét